Posts Tagged Japanese

Wabi-Sabi là gì?

Wabi Sabi cho hoạ sĩ, nhà thiết kế, thi sĩ và triết gia

Tác giả: Leonar Koren

Người dịch: depvabuon.blogspot.com

Lời giới thiệu 

Wabi Sabi là vẻ đẹp của những thứ bất toàn, vô thường và chưa trọn vẹn.

Là vẻ đẹp của những thứ khiêm tốn và nhún nhường.

Là vẻ đẹp của những thứ bất thường.

Vẻ đẹp đang bị lụi tàn. Chất xúc tác mạnh mẽ nhất cho cuốn sách này là sự phổ biến rộng rãi của trà đạo Nhật Bản. Thẩm mỹ Wabi Sabi đã có một thời gian dài hình thành và phát triển cùng trà đạo và đây cũng là một sự hứa hẹn cho một kinh nghiệm Wabi Sabi sâu sắc.

Hiroshi Teshigahara, vị Iemoto truyền thừa, nghệ nhân của trường dạy hoa đạo Sogetsu, đã ủy nhiệm cho ba kiến trúc sư nổi tiếng và thời thượng nhất Nhật Bản  thiết kế và xây dựng cho họ một không gian dể tổ chức các buổi trà đạo. chính Teshigahara cũng đóng góp một phần tư ý tưởng(1). Sau ba giờ bắt xe lửa và xe bus từ văn phòng của tôi tới đây, nơi mà trước kia là nền móng cũ khu nghỉ dưỡng mùa hè của hoàng tộc. Cái làm tôi thấy thất vọng là tôi chứng kiến một thứ tôn vinh sự tráng lệ , hùng vĩ và quyền lực, hầu như không có dấu vết nào của Wabi Sabi. Một căn trà thất mô phỏng túp lều trông mượt mà có vẻ như làm từ giấy lại như một chiếc ô lớn bằng nhựa trắng. Liền kề đó  là một kết cấu bằng kính, thép và gỗ trông có vẻ khá gần gũi với những tòa cao ốc văn phòng. Căn trà Wabi Sabi mà tôi kỳ vọng khi nhìn nhìn kỹ lại  xuất hiện thêm những chi tiết hậu hiện đại được thêm vào một cách vu vơ không đâu. Tôi chợt nhận ra rằng một lúc nào đó, Wabi Sabi –  thứ thẩm mỹ vượt trội – linh hồn của trà đạo đã trở nên một thứ gây nguy hiểm(2).

Phải thừa nhận là, vẻ đẹp Wabi Sabi không phải là “gu” chung của mọi người. Nhưng tôi tin tất thảy mọi người đều không muốn vẻ đẹp này bị mất đi. Sự đa dạng văn hóa là một niềm mong mỏi khi mà  khi mà xu hướng mọi thứ kinh nghiệm cảm xúc đều được đồng bộ hóa, nơi mà một “độc giả” điện tử đứng giữa  kinh nghiệm và sự quan sát, và tất cả những hiển thị đều được số hóa như nhau.

Ở Nhật  không giống như châu Âu và một phần nhỏ hơn ở Châu Mỹ, những chất liệu văn hóa bé nhỏ nhưng quý giá vẫn được giữ gìn. Vì vậy ở Nhật, bảo tồn một vẻ đẹp vũ trụ khỏi bị hoại diệt có nghĩa là, trong những ngày tháng muộn màng này, không đơn thuần chỉ là vật thể hay những đền đài mà là cả một hệ thống tư tưởng  thẩm mỹ mong manh còn sót lại trong bất kỳ một dạng tồn tại nào. Bởi lẽ Wabi Sabi không dễ dàng gì để đúc rút thành một dạng hình hay một lối diễn đạt rõ ràng được nên việc bảo tồn nó càng trở nên một công việc thật sự dễ làm ta nản lòng.

Vẻ đẹp duy tâm. Giống như nhiều người cùng thời với tôi, trước tiên tôi đã học hỏi về Wabi Sabi trong suốt những năm tháng tuổi trẻ với tinh thần hăng say của những năm cuối thập kỉ 60. Vào thời đó, minh triết văn hóa truyền thống Nhật Bản hứa hẹn một câu trả lời sâu sắc cho những câu hỏi dai dẳng của cuộc sống. Wabi Sabi với tôi như một kiểu mẫu thẩm mỹ nền tảng giúp phục hồi lại những thước đo đúng đắn về sự sáng suốt và cân bằng trong cuộc sống. Wabi Sabi giải quyết  được những phân vân nghệ thuật của tôi về việc làm sao có thể tạo nên những thứ đẹp đẽ mà không bị vướng bận vật chất như đầy rẫy những thứ “nghệ thuật” quanh mình bấy giờ. Wabi Sabi- sâu thẳm, đa chiều và khó nắm bắt – xuất hiện như thứ thuốc giải cho xã hội Mỹ khỏi bị tê liệt trong sự mượt mà, ngọt ngào quện lẫn trong vẻ đẹp. Tôi bắt đầu tin Wabi Sabi liên quan tới thứ thẩm mỹ ngày càng nhấn mạnh vào sự đi ngược lại những trào lưu của tuổi trẻ, hiện đại như nhạc punk, grunge(một thể laoij nhạc rock) hay những bất kì thứ  nào được gọi là cái mới

Trà thư. Lần đầu tôi đọc về Wabi Sabi trong cuốn trà thư của Kazuko Okakura, được xuất bản 1906. Mặc dù Okakura đã chạm tới khá nhiều mặt của Wabi Sabi, ông tránh dùng cụm từ” Wabi Sabi”. Có lẽ ông không muốn làm rối trí độc giả của mình bởi những từ nước ngoài mà không hoàn toàn cần thiết cho những ý tưởng thảo luận về thẩm mỹ của mình. (cuốn sách viết bằng tiêng Anh cho những độc giả không biết tiếng Nhật). Có lẽ ông cũng tránh đề cập tới phạm trù này vì vốn đã đầy gai góc cho ngay cả giới trí thức Nhật Bản.

Sau gần một thế kỷ cuốn sách ra đời, phạm trù Wabi Sabi cũng chỉ xuất hiện một cách qua loa trong sách vở và tạp chí  bàn về trà đạo hay những bí mật nhà nghề của Nhật Bản. Thi thoảng, đôi ba câu cũng nhắc đến trong những miêu tả về Wabi Sabi (thường là những câu mở dầu trong phần giới thiệu) cũng theo cách hời hợt như vậy. Và cụm từ này còn được dùng như một cách nói nhạo báng của những nhà phê bình trong và ngoài nước nhắm tới những thử nghiệm nghệ thuật khó hiểu của những người hâm mộ văn hóa truyền thống Nhật Bản.

Có lẽ giờ đây là thời điểm hứa hẹn văn hóa có thể vượt ra ngoài những định nghĩa đóng khung, có thể ngụp lặn sâu hơn một chút trong chiều sâu âm u. Trong  tinh thần này tôi đã tìm ra vài mảnh ghép của Wabi Sabi – mờ xỉn, vỡ vụn, hư nát trong khi có thể được phục hồi – và nỗ lực ghép chúng lại với nhau để tạo nên một cái gì đó có nghĩa. Tôi đã đi được một quãng đường xa bằng những nhà thẩm định giá trị Wabi Sabi, những sử gia, nhà văn hóa đi được – và sau đó đã bước xa thêm một chút. Cố gắng hiểu bản chất ẩn sâu bên dưới, kết nối tư tưởng với hành động, tôi cố gắng nắm bắt tất cả, chính thể luận của Wabi Sabi và làm cho nó mang một ý nghĩa nhất định(3). Kết quả là trong tập sách mỏng này, chỉ như một sự ướm thử, là bước đầu cá nhân tôi trên con đường “gìn giữ” những giá trị mà xưa kia đã từng là một thứ thẩm mỹ được thấu hiểu và nhận biết rõ ràng.

Lịch sử một định nghĩa cố tình bị lảng tránh

Khi được hỏi Wabi Sabi  là gì, hầu hết người Nhật đều lắc đầu e ngại và đưa ra lời xin lỗi cho việc khó có  thể giải thích một cách rõ ràng. Mặc dù họ đều cho rằng mình có thể hiểu được ý nghĩa của nó bởi nói cho cùng thì đó là một trong những giá trị cốt lõi của văn hóa Nhật Bản, song rất ít người có thể nói một cách rõ ràng về thứ cảm giác này.

Tại sao vậy? Bởi vì, như một số người theo chủ nghĩa Sô-vanh cho rằng, cần thiết phải có thứ tố chất bản địa? Gần như vậy. Bởi vì tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ  thích hợp cho việc truyền tải những thông điệp mang nhiều tính cảm xúc, mơ hồ, thứ logic của con tim chứ không thích hợp cho kiểu lý tính rõ ràng. Một phần nào đó có thể đúng, nhưng lý do chính mà người Nhật không được hoc về khái niệm Wabi Sabi  một cách chính thống có lẽ là do không có một quyển sách hay vị thầy nào dạy về vấn đề này.

Điều này không phải là ngẫu nhiên, trong suốt lịch sử thì một cách hiểu lý tính về Wabi Sabi  đã ngầm bị loại bỏ từ trước.

Thiền tông. Gần như từ khi ra đời như một giá trị thẩm mỹ khác biệt, Wabi Sabi đã có  cùng vùng ngoại biên với thiền tông. Thậm chí nhiều khi Wabi Sabi còn được gọi là “Zen of things”, như một minh họa cho rất nhiều giáo lý minh triết của nhà Thiền(4). Người Nhật đầu tiên có liên hệ tới Wabi-Sabi là một vị trà sư, một nhà tu hành, một vị thiền sư đã hành thiền và đã đạt tới đại ngộ. Một trong những tư tưởng lớn của Thiền tông là loại bỏ sự huyên náo. Hiểu biết chân thật trong nhà Thiền, chỉ có thể chuyển giao trong tâm thức, không thể viết hay nói ra. “Người biết không nói, người nói thì không biết”. Ở cấp độ mới bắt đầu, những lời giáo huấn này được nhắc nhở luôn để tránh sự hiểu sai về phạm trù vốn rất dễ bị nhầm lẫn này. Vậy nên, một định nghĩa rõ ràng  nhằm giải thích khái niệm Wabi-Sabi  là một thứ đã bị cố tình tránh né.

Hệ thống Iemoto. Từ thế kỉ 18, việc tổ chức và trao truyền những tinh hoa văn hóa nghệ thuật Nhật Bản như trà đạo, hoa đạo, thư pháp, ca vũ kịch  là công việc của một nhóm người tinh yếu trong gia tộc. Thành viên đứng đầu gia tộc trong mỗi nhóm này được gọi là Iemoto(5). Việc đặt tên loại hình, tạo tác hay chọn loại hình nghệ thuật để theo đuổi được quyết định hoàn toàn bởi các Iemoto. Cũng như trong Thiền tông, tinh yếu nhất định chỉ trao truyền cho một số người được chọn lựa. Wabi Sabi, một phần trọng yếu trong kho tài sản trí tuệ của Iemoto ( đặc biệt trong lĩnh vực trà đạo) là thứ không thể trao đi – trừ phi đó là một cuộc chuyển giao có giá trị tiền bạc hoặc vì lòng yêu thích. Những khái niệm mơ hồ và lạ lùng kiểu Wabi Sabi  cũng nhiều khi cũng được vận dụng khôn khéo để tạo nên một thương vụ kiếm lời. Sự mơ hồ về ý nghĩa lại dường như trêu ngươi những khách hàng mù mờ về giá trị thực của Wabi Sabi, đó chính là mối làm ăn cho những Iemoto giả hiệu.

Thứ thẩm mỹ mơ hồ. Ý nghĩa hiển minh của Wabi Sabi được bao bọc trong sự huyền bí vì những lý do mang tính thẩm mỹ. Vài nhà phê bình Nhật Bản cảm thấy rằng Wabi Sabi cần duy trì trong đặc tính khó hiểu, mơ hồ và khó định nghĩa bởi sự khó có thể nắm bắt lại chính là một phần trong tính đặc sắc của nó. Wabi Sabi , họ tin rằng, là một điểm cùng đích, chứa một cái kết trong chính mình, không bao giờ được nhận diện một cách hoàn toàn. Từ ưu thế này, sự không thể định nghĩa hay nắm bắt lại đơn giản  là một mặt không hoàn hảo sẵn có của Wabi Sabi. Bởi tính logic, sáng sủa rõ ràng không phải là tính chất của Wabi Sabi nên việc cố công giả thích hay định nghĩa lại chính là làm cho ý nghĩa của nó hạn hẹp đi.

Có thể những nhà phê bình đúng. Trong địa hạt thẩm mỹ, những lý do luôn lệ thuộc vào nhận thức và cảm giác. Trong truyền thống, những nghệ nhân làm kiếm và người thẩm định thường nói về thứ năng lượng tâm linh tiềm ẩn trong mỗi thanh kiếm, đó là thứ thần bí nhất. Ngày nay, những người trẻ tuổi được học hành và thực nghiệm đầy đủ về mọi yếu tố như nhiệt độ chính xác của lò nung, tỉ lệ thành phần kim loại và cả thời điểm khi mà thanh kiếm đạt được “tính” cần thiết – độ linh hoạt, độ cứng, tính dẻo dai…hay chính linh hồn của thanh kiếm được thực sự hình thành. Có lẽ những cách thức mới có phần bộc trực này làm giảm đi sự lãng mạn của cái gì đó còn trong tưởng tượng. Nhưng nếu có thể góp phần bảo tồn một giá trị thẩm mỹ độc đáo, một vài cột chỉ đường thiết nghĩ cũng nên cần dựng lên cho thế hệ mai sau.

Một định nghĩa tạm thời

Wabi Sabi là nét đặc thù và rõ ràng nhất khi ta nghĩ tới vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản. Nó chiếm một vị trí vô cùng to lớn, tựa như một “đền Phatheon của Nhật Bản ” về những giá trị thẩm mỹ, cũng giống như những lý tưởng của Hy Lạp về vẻ đep và sự hoàn hảo  ở phương Tây(6). Wabi Sabi, chính nó đã chứa một sự diễn tả đầy đủ nhất về một lối sống. Hay ít nhất, đó cũng là một vẻ đẹp độc đáo.

Trong tiếng Anh, từ vựng có nghĩa gần nhất Wabi Sabi có lẽ là “rusty”. Theo định nghĩa của Webster, “rusty” có nghĩa là sự đơn giản, không màu mè, mộc mạc…(với) bề mặt thô nhám, không trơn nhẵn. Mặc dù “rusty”chỉ diễn tả được một chiều kích giới hạn của khái niệm thẩm mỹ Wabi Sabi, nó vẫn là ấn tượng ban đầu của rất nhiều người khi bắt gặp những thứ Wabi Sabi . Wabi Sabi mang một vài đặc điểm gần giống với cái mà ta gọi là “nghệ thuật nguyên thủy”. Đối tượng sáng tạo là đất, đó là thứ nguyên liệu mộc mạc, gần gũi nhất mà có lẽ cũng ra đời sớm nhất trong tự nhiên. Nhưng khác với “nghệ thuật nguyên thủy”,  Wabi Sabi  không dùng những dạng tượng trưng hay biểu tượng.

Ban đầu, hai từ”wabi” và “sabi” có nghĩa hoàn toàn khác nhau. “Sabi” nguyên nghĩa là lạnh lẽo, hoang tàn. Còn “Wabi” nguyên nghĩa là sự cô tịch, trạnh thái buồn bã, yếm thế. Khoảng thế kỉ XIV, nghĩa của hai từ này mới bắt đầu đi theo chiều hướng của những giá trị thẩm mỹ tích cực hơn. Lựa chọn  cuộc sống ẩn dật và thanh đạm của những nhà tu hành theo lối khổ hạnh được cho là càng có nhiều cơ hội cho sự phát triển phong phú về mặt tinh thần. Khuynh hướng, cách sống nên thơ này mang trong mình một thái độ sống trân trọng mọi thứ, ngay cả những chi tiết nhỏ bé vụn vặt thường ngày, khả năng nhìn ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong, những bình diện của thiên nhiên thường không mấy ai nhìn ra. Đến lượt những thứ nhỏ bé tầm thường lại mang một ý nghĩa mới mẻ như là nền tảng của cái mới, cái đẹp thuần khiết.

Qua hàng thế kỉ, ý nghĩa của “wabi” và “sabi” ngày nay đã có nhiều thay đổi và ranh giới giữa chúng thật sự đã bị xóa nhòa. Khi một người Nhật nói “wabi” thì cũng có thể họ đang nói về “sabi” và ngược lại. Thường thì họ đơn giản gọi chung là “Wabi Sabi”,  đó cũng là một quy ước ngầm trong cuốn sách này. Nhưng nếu chúng ta coi  “wabi” và “sabi” như những phần tử riêng biệt thì có thể phân loại chúng như sau:

WABI

SABI

·         Một cách sống, một con đường tâm linh

·         Hướng nội, chủ thể

·         Một cấu trúc có tính triết học

·         Thứ thuộc không gian

·         Chất liệu, nghệ thuật, văn học

·         Hướng ngoại, khách thể

·         Một lý tưởng thẩm mỹ

·         Thứ thuộc thời gian

Một phép so sánh với chủ nghĩa hiện đại

Để có một mường  tượng rõ ràng hơn về Wabi Sabi là cái gì và không là cái gì – có lẽ tốt hơn là ta nên đặt nó trong phép so sánh và tương quan với chủ nghĩa hiện đại, khuynh hướng thẩm mỹ chiếm ưu thế của xã hội mang tính toàn cầu hóa của nửa sau thế kỉ XX. “Chủ nghĩa hiện đại” lại là một phạm trù khác vốn khó nắm bắt đã để lại một vết cắt lớn trong lịch sử nghệ thuật sáng tạo, trong hành xử và triết học. Ở đây chúng ta đang nhắc tới “chủ nghĩa hiện đại” chính thống, cái  mà hiện thân của nó là hầu hết tác phẩm được trưng bày trong những bộ sưu tập của bảo tàng nghệ thuật hiên đại ở NewYork. Nghệ thuật hiện đại chính thống bao gồm hầu hết là những trang thiết bị đường nét sắc sảo đi theo trường phái tối giản, máy móc, ô tô và cả những đồ dùng được sản xuất từ thế chiến thứ II. Nó còn bao gồm cả bê tông, sắt thép, những tòa cao ốc được bao bọc kính bên ngoài như  kiểu kiến trúc của chính cái bảo tàng này.

Giống nhau:

  • Cả hai đều được áp dụng trong những đối tượng, không gian và thiết kế của con người.
  • Chúng đều có động thái mạnh mẽ đi ngược lại những trào lưu chiếm ưu thế thời đó, chủ nghĩa hiện đại là một sự chuyển hướng căn bản từ chiết trung cổ điển từ thế kỉ XIX. Wabi Sabi là sự chuyển hướng căn bản từ kiểu cách cầu toàn, tráng lệ của Trung Hoa cổ điển thế kỉ XVI và trước đó.
  • Đều tránh bất cứ một thứ trang trí nào trọn vẹn, hoàn hảo về mặt kết cấu.
  • Chúng đều trừu tượng, không mang tính đại diện cho cái đẹp lý tưởng
  • Đều mang trong mình những đặc trưng dễ dàng  nhận biết. Chủ nghĩa hiện đại  không tì vết, bóng bẩy, mượt mà. Wabi Sabi mộc mạc, bất toàn và bất thường.

Khác nhau(7):

CHỦ NGHĨA HĐ

WABI SABI

·         Phạm vi cộng đồng

·         Gợi ra một thế giới quan có tính logic

·         Hoàn toàn

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính toàn cầu, nguyên mẫu

·         Sản xuất hàng loạt

·         Hướng tới tương lai

·         Tin tưởng vào sự chi phối của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa công nghệ

·         Con người thích ứng với máy móc

·         Dạng hình học(sắc nhọn, chính xác, vuông thành sắc cạnh)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái hộp( được bao kín bởi những đường thẳng chính xác)

·         Vật liệu nhân tạo

·         Có vẻ ngoài trơn nuột

·         Cần bảo quản tốt

·         Độ tinh khiết,không pha tạp càng làm giàu sức biểu hiện hơn

·         Làm suy giảm thông tin có được từ mặt giác quan

·         Không khoan nhượng với sự mơ hồ,mâu thuẫn

·         Lạnh

·         Thường sáng sủa tươi mới

·         Chức năng và tiện ích là những giá trị cơ bản

·         Vật liệu hoàn hảo là một lý thưởng

·         Trường tồn

·         Phạm vi cá nhân

·         Gợi ra một thế giới quan mang tính trực giác

·         Tương đối

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính cá nhân, phong vị riêng

·         Không trùng lặp nhau

·         Hướng tới hiện tại

·         Tin vào những cái bất khả tri thuộc về bản chất của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa tự nhiên

·         Con người thích ứng với tự nhiên

·         Dạng hữu cơ( hình, viền mềm mại và không rõ ràng)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái bát( hình dáng tự do, mở ở phía trên)

·         Vật liệu từ thiên nhiên

·         Có vẻ ngoài thô nhám xù xì

·         Hợp với vẻ tàn phai, hư hoại do thời gian

·         Sự hao mòn, phai tàn càng nói lên được nhiều thứ hơn

·         Làm gợi mở hơn thông tin có tính giác quan

·         Hài lòng với sự mơ hồ và mâu thuẫn

·         Ấm

·         Thường tối và mờ xỉn

·         Chức năng và tiện ích không quá quan trọng

·         Sự phi vật chất hoàn hảo là một lý tưởng

·         Mọi thứ đều ngắn hạn

Lịch sử ra đời

Trước thời Rikyu. Lý tưởng đầu tiên truyền cảm hứng cho tính siêu hình, tinh thần và chuẩn mực đạo đức của Wabi Sabi là sự đơn giản, tự nhiên, chấp nhận thực tại được tìm thấy trong đạo Lão và thiền tông Trung Hoa. Trạng thái Wabi Sabi của tâm thức và ý thức về chất liệu đều được chuyển hóa từ bầu không khí sầu muộn, ảm đạm và bút pháp tiết chế tối đa của thơ ca và hội họa (tranh thủy mặc) Trung Hoa ở thế kỉ IX và thế kỉ X. Vào cuối thế kỉ XVI, những thành tố riêng rẽ này đã được hợp nhất lại thành một chất liệu rất “Nhật Bản”. Mặc dù Wabi Sabi nhanh chóng thẩm thấu vào hầu hết các mặt của trào lưu văn hóa và phong vị của Nhật Bản, nhưng nó chỉ đạt tới đỉnh cao trong khuôn khổ của trà đạo.

Có nhiều tên gọi khác nhau như Sado, Chado và Chanoyu, trà đạo đã trở thành một bộ môn nghệ thuật xã hội kết tinh có tính chắt lọc giữa những môn nghệ thuật khác như kiến trúc, nội thất, ngoại thất sân vườn, cắm hoa, hội họa, ẩm thực và trình diễn. Sự thành công của người thực hành bộ môn này là làm sao cho có thể sắp xếp hài hòa những hình thức thức nghệ thuật trên và khách tham gia trong một không gian thú vị mà tĩnh lặng và thường có một chủ đề xuyên suốt bên trong(8). Đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật, đạt tới nhận thức vũ trụ trong ý niệm Wabi Sabi một cách đầy đủ nhất chính là mục đích bên trong của trà đạo.

Vị thầy đầu tiên được ghi nhận là Muratashuko, một vị thiền sư đến từ Nara. Thời đó trong xã hội thế tục thì trà đạo được coi là một thú vui tao nhã được ưa chuộng trong một bộ phận không nhỏ. Bởi vì, tiếng tăm và sự giàu có dường như gắn liền với việc sở hữu những món đồ pha trà quý hiếm, tinh xảo ngoại lai(9). Shuko, đi ngược lại với trào lưu này, cố ý sử dụng những đồ bản địa ở bất kì đâu, đó chính là khởi nguyên của thẩm mỹ Wabi Sabi trong  trà đạo.

Thời Rikyu. Một trăm năm sau sự ra đời những đột phá của Shuko, Wabi Sabi đã được “thần thánh hóa” nhờ Sen no Rykuy (1522-1591). Là con của một thương gia, Rikyu đã bắt đầu yêu thích trà đạo từ năm 17 tuổi(10). Đầu tiên Rikyu được biết tới như một nghệ nhân pha trà cho vị  thống soái Oda Nobungana hùng mạnh. Sau khi Oda Nobungana bị ám sát vào năm 1582, Rikyu chuyển sang phụ vụ cho người kế thừa của ông ta, một kẻ tài giỏi và lập dị là Toyotomi Hideyoshi. Rikyu, với 9 nghệ nhân pha trà khác, đã giúp Hideroshi thu nhận và đánh giá đúng những trà cụ qua việc thấu hiểu những nghi thức phức tạp và dụng cụ được sử dụng trong một nghi lễ trà đạo. mặc dù cuối thế kỉ XVI chiến tranh liên miên nhưng vẫn tồn tại một thời hoàng kim của sáng tạo trong nghệ thuật. Trong trà đạo thì đã có những thử nghiệm đáng kể với một cơ số dụng cụ, không gian kiến trúc và các kiểu lễ nghi. Giữa những luồng văn hóa vũ bão thì Rikuy vẫn tin tưởng vào chiến thắng của những lý tưởng thẩm mỹ có giá trị lâu dài : công khai đặt những thứ có vẻ thô mộc như đồ thủ công truyền thống của Hàn Quốc và Nhật Bản – những thứ có thể gọi là Wabi-Sabi ngang tầm, thậm chí còn cao hơn một bậc những món đồ xa xỉ, hoa mĩ, toàn bích của Trung Hoa(11). Rikyu cũng sáng tạo nên một kiểu trà thất dựa trên nguyên mẫu là túp lều của người nông dân với mái lợp rạ, tường đất xù xì và những cột kèo méo mó. Sau đó Rikyu còn giản lược trà thất chỉ còn một diện tích đáng kinh ngạc bằng 2 tấm tatami, khoảng chừng 39 feet vuông. (12)

Thật không may, những giá trị quay về nguyên bản, về sự mộc mạc tự nhiên mà Rikyu khởi xướng lại không được hoan nghênh và đánh giá cao ở thời đó. Hideroshi, một người vốn xuất thân từ nông dân đã nghi ngờ khiếu thẩm mỹ của Rikyu về những thứ mà thường bị cho là xấu xí. Liệu Rikyu có nhẫn tâm may cho hoàng đế “một bộ quần áo mới”? Trong lý tưởng thẩm mỹ của Hideroshi, cái đẹp là phải phô diễn được sự xa hoa khôn xiết: một trà thất được dát bằng vàng. Thẩm mỹ của Rikyu đứng trước nguy cơ làm rạn nứt mối qua hệ giữa họ, trong khi vốn Hideroshi đã sẵn ghen tị với việc Rikyu ngày càng được hoan nghênh. Sự bất cẩn về chính trị của Rikyu cộng với lợi lộc từ những Trà cụ  đã đần đẩy Hideroshi tới hành động ép Rikyu phải tự sát vào tuổi 70.

Sau Rikyu. Mối băn khoăn hoài nghi của những trà hội viên  từ sau cái chết của Rikyu, đã tìm được lời giải từ những lời truyền dạy chân thật của ông (không giống như những lời răn của Chúa hay đấng Mohammed đòi hỏi ở họ một sự vâng lời và thông suốt)(13). Trong giai đoạn này, những phán xét hay tưởng tượng mang tính cá nhân đã bị vắt kiệt khỏi trà đạo. Thậm chí hầu hết những cử chỉ động tác nhỏ nhất  của tay có tính nghi lễ khá cứng nhắc được duy trì và hầu như không thay đổi từ thời Rikyu ( lý do ở đây là Rikyu đã đạt tới một phương cách hoàn hảo nhất để sử dụng trà cụ với sự hạn chế tối đa những động tác thừa thãi làm hao tổn năng lượng) .

Khoảng 100 năm sau cái chết của Rikyu, “nghệ thuật” trà lại tìm được cái “đạo”của nó (chado), có vẻ như đó là một thứ tôn giáo hay phép rèn luyện tinh thần. Trong suốt quá trình bị biến đổi, Wabi Sabi, cốt lõi của trà đạo đã bị thu gọn lại, đơn giản hóa và gói gọn trong những lời dạy, những luật lệ bất di bất dịch. Wabi Sabi dường như đang trượt dần trên con đường tới cái điểm đối nghịch của nó: sự mượt mà, bóng bảy, sáng rõ.

Trên một mặt khác, các tổ chức- trường học phi lợi nhuận dạy về trà đạo có thể gọi là những bảo tàng sống kế thừa lịch sử giúp duy trì và bảo tồn một cách nguyên bản những nghi thức truyền thống. (Sự tập duyệt, sau tất cả, là cốt lõi của truyền thống). Cũng có thể nói rằng nếu không có những tổ chức này, Wabi Sabi – phần còn sót lại sẽ bị tàn lụi có lẽ còn nhanh hơn cả sự Âu hóa điên cuồng trên khuôn mặt Nhật Bản. Ngoài ra, việc thực hành nghi lễ còn có giá trị như một bài tập thiền. Những động tác “vô trí” lặp đi lặp lại có vẻ máy móc và cho phép ta đơn giản là tập trung  vào cái “đang là” mà không bị phân tâm bởi việc quyết định, thể hiện kĩ xảo hay những cái khác.(14)

Tuy nhiên, Wabi Sabi đã không còn là tư tưởng hay tinh thần chính yếu của trà đạo nữa, mặc dù có vài thứ nghe có vẻ Wabi Sabi, nhìn trông có dáng dấp Wabi Sabi, tên gọi và kiểu cách đúng như vậy – nhưng vẫn trật lất! Thay vào đó, Wabi Sabi  đã bị thay thế bởi những trường, hội  trà đạo hướng vào “hòa bình thế giới” hay “giao tiếp sâu thẳm giữa con người”(15). Như một phản ứng nhằm trì hoãn lâu dài với việc vắng bóng của Wabi Sabi thực sự, một số thành viên cấp tiến của các hội chính thống đã tìm đến nghệ thuật đương đại để mong tìm được sự kết nối tạm thời với Wabi Sabi(16). Nền tảng khôn ngoan của thứ Wabi Sabi mới này là  hệ thống lại của Rikyu về một câu châm ngôn trong nhà thiền, đại loại là “lần đầu cũng có thể là lần cuối”, hàm ý ta phải tập trung hoàn toàn vào những thứ xảy ra ở đây lúc này. Liệu chủ trương đạo đức – tâm linh cận biên này có chứng tỏ được kết quả trực quan của nó trong việc đưa trà đạo đến một hướng sát với Wabi Sabi  hơn?(17)

Vũ trụ  quan Wabi Sabi

Lý thuyết cơ bản

Mọi thứ đang trong quá trình hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô.

Giá trị về mặt tinh thần

Chân lý đến từ sự quan sát thiên nhiên vạn vật.

Sự “vĩ đại” nằm ẩn sâu trong những thứ nhỏ bé bình dị.

Vẻ đẹp có thể tìm thấy ở những thứ tưởng chừng xấu xí.

Trạng thái tâm thức

Chấp nhận thực tại

Trân trọng trật tự vũ trụ

Châm ngôn đạo đức

Cho đi những thứ không cần thiết

Hướng vào bản chất bên trong, coi nhẹ những thứ bậc vật chất

Đặc tính Chất liệu

Mang ý niệm quá trình thời gian

Bất thường

Khiêm nhường

Mộc mạc

Tối

Giản đơn

Wabi Sabi có thể được gọi là một hệ thống thẩm mỹ phức hợp nhiều khái niệm. Thế giới hay vũ trụ quan cũng là phản chiếu chính bản thân. Nó cho ta thấy tính vạn vật đồng nhất thể là đặc tính chung của mỗi thực thể (siêu hình), cái toàn tri (tinh thần), cảm giác hạnh phúc (trạng thái tâm thức), cách hành xử (đạo đức), cách nhìn và cảm nhận mọi thứ (vật chất). Càng hệ thống hóa và làm rõ ràng từng khái niệm riêng lẻ hợp thành bao nhiêu, ta càng nắm rõ về khái niệm chung bấy nhiêu, càng có nhiều cách thức chỉ dẫn về cội nguồn ­– càng có nhiều ích lợi đem lại.

Lý thuyết cơ bản của Wabi Sabi

Vũ trụ như thế nào?

Mọi thứ đều đang hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô. Khi bóng tối bắt đầu bao phủ lên vùng đất hẻo lánh, một lữ khách đang băn khoăn cho chỗ nghỉ đêm nay. Anh bắt đầu để ý có rất nhiều thân cỏ sậy cao mọc khắp nơi, anh vòng tay ôm lại một ôm lớn, vẫn giữ chúng đứng trên mặt đất như ban đầu và thắt nút lại phía trên. Úm ba la, một túp-lều-cỏ-sống hiện ra. Sáng hôm sau, trước khi khởi hành cho một chuyến viễn du mới, anh tháo nút thắt và úm ba la, chiếc lều cỏ biến mất, mọi thứ trở lại như không có gì xảy ra. Sự hoang vu nguyên thủy quay trở lại, nhưng một vài chi tiết nhỏ nhặt của nơi trú ẩn vẫn còn sót lại. Một vài vết xoắn nhẹ vẫn còn ở đây hay ở kia, ký ức về chiếc lều cỏ vẫn còn trong tâm trí người lữ khách cũng như những độc giả đang đọc những dòng này. Wabi Sabi, trong hình thức thuần khiết và lý tưởng nhất là những dấu vết mong manh và hư ảo như vậy, đó là biên dạng của những thứ hư vô.(19)

Trong khi vũ trụ đang hư hoại thì cũng là nó đang hình thành. Nhiều thứ mới mẻ xuất hiện từ cái hư vô. Nhưng chúng ta không thật sự nhận ra nó bằng óc quan sát vội vã khi chúng đang hình thành hay tới hồi chuyển giao. Nếu ta không thấy sự khác biệt thì rất có thể ta sẽ nhầm lẫn một đứa bé mới sinh – bé nhỏ, nhăn nhúm, cong queo, trông hơi kì cục– với một ông già gần miệng hố. Trong hình dung về Wabi Sabi, có lẽ có đôi chút tùy tiện, mọi vật tới hồi  chuyển giao thường có xu hướng xuất hiện dưới dạng hơi tối tăm, mờ mịt và lặng lẽ. Những thứ đang hình thành có xu hướng sáng sủa hơn đôi chút, rõ ràng hơn và cũng bắt mắt hơn. Hư vô – không theo cách hiểu của phương Tây như một không gian trống rỗng hoàn toàn, mà nó ẩn chứa sự sống tiềm tàng. Trong khái niệm trừu tượng, Wabi Sabi gợi lên hình ảnh một vũ trụ không ngừng vận động.

Giá trị tinh thần của Wabi Sabi

Bài học của vũ trụ là gì?

Chân lý đến từ sự quan sát tự nhiên(20). Người Nhật luôn cố gắng để làm chủ được thiên nhiên ở bất kì nơi đâu, nhiều nhất có thể được trong phạm vi của công nghệ cho phép. Nhưng về thời tiết thì có một chút ngoài khả năng – độ ẩm và nóng vào mùa hè, lạnh và khô vào mùa đông, lượng mưa trung bình của ba ngày trong suốt năm, trừ mùa mưa đầu hè khi mà mọi thứ đều chìm trong một màn sương ẩm từ 6-8 tuần. Và thứ nữa đó là động đất, núi lửa, bão lũ, hỏa hoạn và sóng thần đến và đi và không hề báo trước. Người Nhật không hoàn toàn đặc biệt tin  vào tự nhiên nhưng họ học được nhiều bài học từ đó. Ba bài học lớn nhất mà họ rút ra từ lịch sử nghìn năm chống chọi và sống chung với thiên nhiên (có ảnh hưởng của Đạo Lão) đưa vào thành thứ minh triết của Wabi Sabi.

  1. Mọi thứ đều là vô thường. Mọi thứ của vũ trụ rồi sẽ trở thành hư vô, không loại trừ bất kỳ cái gì, là điều không thể tránh. Thậm chí những vật liệu vô cùng rắn chắc, khó phản ứng cũng là một ảo tưởng của sự vĩnh cửu. Chúng ta cứ giả như không thấy , tâm trí dùng mọi mưu mẹo để quên đi nhưng đều không tránh được sự thực là mọi thứ đều tan vào hư vô. Cả hành tinh và những vì sao, thậm chí cả những thứ vô hình như tiếng tăm, truyền thống gia đình, ký ức lịch sử, thuyết khoa học, mệnh đề toán học, kiệt tác văn học nghệ thuật (bao gồm cả dạng điện tử), tất cả đều sẽ tan biến vào lãng quên và hư vô.
  2. Tất cả đều bất  toàn. Không gì tồn tại mà không có khiếm khuyết. Khi ta nhìn thật gần vào mọi thứ, ta sẽ thấy rằng mọi thứ không thực sự hoàn hảo. Cạnh sắc của lưỡi dao khi phóng đại lên thì vẫn có những vết lõm, gồ ghề. Mọi người thợ thủ công đều biết giới hạn của sự hoàn hảo : chính là sự thách thức của cái bất toàn. Và khi mọi thứ bắt đầu sụp đổ và quay lại trạng thái sơ khởi, chúng thậm chí  còn trở nên kém hoàn hảo và bất thường hơn.
  3. Tất cả đều chưa hoàn thành. Tất cả, bao gồm chính vũ trụ đều đang trong một quá trình sinh diệt viên miễn. thường thì chí ta hay tùy tiện chỉ ra một điểm kết thúc hay chấm dứt, nhưng khi nào thì số phận của một vật tới hồi kết? Cây cối sẽ kết thúc khi ra hoa? Khi kết hạt? Khi hạt nảy mầm? Hay khi mọi thứ trở lại với đất? Khái niệm về sự hoàn tất không có chỗ đứng trong Wabi-Sabi.

“Sự vĩ đại” tồn tại trong những điều nhỏ bé, ta ít để ý tới. Wabi Sabi chính xác như một đại diện cho tư tưởng đi ngược với phương Tây về cái đẹp của họ như một cái gì đó tựa như những đền đài công trình to lớn, kỳ vĩ, trường tồn. Wabi Sabi không được tìm thấy trong tự nhiên trong thời kì nở rộ hay còn xanh tốt mà là lúc còn chưa trưởng thành hay đã tàn lụi. Wabi Sabi  không là vẻ lộng lẫy của hoa trái, không là vẻ hùng vĩ của cây cối, không là vẻ ngoạn mục đẹp đẽ của phong cảnh. Wabi Sabi là những thứ khiêm nhường và còn tiềm tàng, những thứ còn ngập ngừng hoặc phù du, những thứ phảng phất mong manh, chóng tàn phai. Nó không thể thấy được với những nhãn quang tầm thường.

Như một liều thuốc “vi lượng đồng căn”, Wabi Sabi được chia làm nhiều phần nhỏ. Khi liều lượng càng giảm bớt, kết quả càng khả quan. Những thứ càng gần với sự phù du hư ảo, chúng càng tinh tế và gợi nhiều liên tưởng. Nghĩa là, để cảm nhận được giá trị Wabi Sabi, ta phải sống chậm lại, kiên nhẫn, phải nhìn mọi thứ thật gần(21).

Vẻ đẹp có thể được khai phá từ những thứ tưởng chừng xấu xí. Wabi Sabi  không rành mạch trong việc tách rời cái đẹp khỏi cái không đẹp hoặc xấu. Vẻ đẹp Wabi Sabi , trong khía cạnh nào đó, là điều kiện cho ta đi tới tận cùng với cái mà ta vẫn cho là xấu xí. Wabi Sabi  đưa ra khái niệm vẻ đẹp là khả năng nảy sinh bất chợt giữa ta và một khách thể. Vẻ đẹp có thể phát sinh một cách rất tự nhiên ở bất cứ thời điểm nào mà hoàn cảnh, ngữ cảnh thuận lợi hay một quan điểm thích hợp mang lại. Vẻ đẹp theo cách đó là một trạng thái thay đổi của nhận thức, một khoảnh khắc phi thường của thơ ca và sự duyên dáng.

Nơi những thương gia giàu có, vị Samurai hay quý tộc thực hành nghi lễ trà đạo là một kiểu túp lều nông dân xa xưa, thứ làm nguyên mẫu cho thiết kế của trà thất kiểu Wabi Sabi, là một không gian bình dị và tồi tàn. Nhưng, trong một bối cảnh thích hợp, với sự dẫn dụ của cảm quan, nó lại mang tới một vẻ đẹp lệ biệt. Tương tự vậy, những đồ pha trà đời đầu thường khá thô mộc, trông khá xoàng xĩnh và xỉn màu. Với những người đã quen với tiêu chuẩn vẻ đẹp phải tinh xảo, tráng lệ và hoàn hảo thì sẽ cho rằng nó thật sự xấu xí. Hầu như những người đi đầu của Wabi Sabi  cố tình tìm kiếm những thứ kiểu mẫu mộc mạc, không đẹp theo tiêu chuẩn chung nhưng không quá lố bịch – và tạo một sự thay đổi vị thế ở nơi mà mà chúng có thể chuyển sang vị trí đối nghịch.

Wabi Sabi – trạng thái của tâm thức

Ta cảm nhận thế nào về những thứ ta biết?

Chấp nhận thực tại. Wabi Sabi là một quan niệm thẩm mỹ trân trọng những thứ phù du của cuộc sống. Cây cối xanh tốt vào mùa hạ lại trở nên khô héo dưới trời đông. Tất cả những gì còn lại của lâu đài thành quách nguy nga xưa kia là nền móng đổ vỡ bao phủ che lấp bởi lau sậy và rêu mốc. Hình ảnh Wabi Sabi bắt ta phải suy nghĩ về cái chết của chính mình, gợi lên một nỗi buồn hiện sinh nhẹ nhàng. Chúng khuấy lên một niềm an ủi pha lẫn chua xót, bởi ta biết mọi thứ rồi sẽ có chung một số phận.

Trạng thái Wabi Sabi  tâm thức thường được chuyển tải qua thơ ca, bởi chính thơ ca lại cung cấp phương tiện cho việc diễn đạt những cảm xúc, nhưng hình ảnh có dư ba mạnh mẽ có lẽ còn lớn hơn nhiều cái khung ngôn từ chứa đựng chúng (điều này gợi liên tưởng tới một vũ trụ bao la hơn cái ta thấy). Rikyu thường mượn bài thơ của Fujiwara no Teika (1162-1241)  để miêu tả cảm xúc Wabi Sabi.

Quanh ta chẳng hoa nở

Lá thích cũng thôi reo

Túp lều ven sông lẻ

Trên bến bờ chạng vạng

Của một đêm thu này.(22)

Chắc hẳn những câu thơ đã gợi lên liên tưởng về một cái đẹp buồn bã của Wabi Sabi. Tiếng quạ kêu thê lương, tiếng ốc nghe buồn bã. Tiếng vọng lại của còi xe cấp cứu qua hẻm núi của một thành phố lớn.

Trân trọng trật tự vũ trụ. Wabi-Sabi gợi lên một vùng đất huyền ảo với tất cả sự  sống động cơ học của mọi thứ hiện hữu, vượt ra ngoài nhận thức thông thường của chúng ta. Sức mạnh nguyên thủy này trong Wabi Sabi làm liên tưởng tới hình tròn – biểu tượng vũ trụ trong Ấn Độ giáo hay trong nhà thờ Trung cổ Châu Âu – được xây dựng như một cách thể hiện lòng tôn trọng với trật tự vũ trụ. Những chất liệu Wabi Sabi gợi nên một cảm giác siêu việt. Cái cách mà ánh sáng đi qua giấy nến trên ô cửa làm chúng trở nên dịu dàng và mờ ảo. Những đường nét trong vết nứt của đất sét khi chúng khô lại. Màu sắc và bề mặt biết đổi của kim loại khi chúng bị mờ xỉn hay han gỉ. Tất cả đều là quy luật của tự nhiên, của một thứ cấu trúc nằm sâu thẳm trong vạn vật.

Wabi Sabi, một quy tắc đạo đức

Nếu biết về cái mà ta thấy, ta nên hành động thế nào?

Hãy loại bỏ những gì không cần thiết. Wabi Sabi có nghĩa là bước đi một cách nhẹ nhàng trên hành tinh này và trân trọng mọi thứ quanh ta, ngay cả những thứ nhỏ bé bình dị nhất mà ta bắt gặp. “Giàu có về vật chất không phải là cái giàu có thực, sự phong phú về tinh thần mới đáng giá” là câu châm ngôn của Wabi Sabi. Nói cách khác, Wabi Sabi khuyên ta hãy ngừng lại những mối bận tâm về sự thành công, giàu có, quyền lực địa vị ..để sống một cuộc đời nhẹ nhõm.

Rõ ràng, để sống một cuộc sống đơn giản theo lý tưởng Wabi Sabi  đòi hỏi phải có nỗ lực, ý chí và có cả những quyết định khó khăn. Wabi Sabi cho rằng để biết lúc nào nên có chọn lựa và lúc nào thì không và để mọi thứ như tự nó là rất quan trọng. Thậm chí khi sống một cuộc đời thanh đạm giản dị nhất có thể thì nó vẫn bao gồm vật chất. Wabi Sabi chính xác là sự cân bằng giữa lòng ham muốn, niềm vui khi sở hữu và và cả niềm vui của sự từ bỏ.

Tập trung vào bản chất bên trong và bỏ qua giá trị vật chất. Phép tắc ứng xử trong trà thất chính là sự giải thích rõ ràng nhất cho giá trị này. Trước hết là biểu hiện của lòng khiêm tốn, mọi người đều phải cúi xuống gần như là chui qua lối cửa vào đã được cố ý làm cho nhỏ và thấp. Một khi đã vào trong, tất cả đều bình đẳng. Suy nghĩ phân biệt – “cái này tốt , cái kia xấu” không được chấp nhận. Sinh viên nghèo hay thương gia giàu có hay giáo chủ quyền lực – những người có vị rất trí khác nhau ngoài xã hội – đều bình đẳng trong này. Tương tự như vậy, với người quan sát tinh tế, những đồ vật trong trà thất đều có một phẩm chất như nhau. Điều này nhằm hướng tới một sự sáng rõ, rằng nguồn gốc cũng như tên tuổi người làm ra đồ vật đó không phải là thứ quan trọng trong Wabi Sabi. Những gì liên quan tới giá trị cũng được đẩy sang một bên. Bùn đất, giấy, tre, thực tế về bản chất  lại có giá trị Wabi Sabi hơn là vàng, bạc hay kim cương. Trong Wabi Sabi, không có khái niệm “đáng giá”, bởi lẽ đó mà hàm ý cả sự “vô giá”. Một đồ vật chỉ có giá trị Wabi Sabi  trong khoảnh khắc mà nó được trân trọng như vậy(23). Do đó, trong trà thất, mọi thứ hiện diện khi chúng mang trong mình giá trị Wabi Sabi. Ra ngoài trà thất, chúng lại quay lại với bản chất thường ngày, và dư âm Wabi Sabi cũng phai nhạt dần.

Chất liệu Wabi Sabi

Những motif, chất liệu hay sự kết hợp nào diễn đạt được cái hiểu của ta về vũ trụ, hay tạo nên cách hiểu đó ở những thứ khác??

Gợi ý từ thiên nhiên. Những thứ Wabi Sabi là hình ảnh của khoảnh khắc mà thời gian ngưng đọng lại. Chúng được làm từ những chất liệu rõ ràng là không tối ưu cho việc sử dụng và không bền bỉ với thời tiết môi trường. Chúng ghi lại những nắng gió, nóng lạnh bởi thứ ngôn ngữ là sự không màu mè, han gỉ, mờ xỉn, cong vênh, ố vàng và bong tróc hay bất kì một trạng thái cũ mòn nào đều là một chứng cứ của lịch sử sử dụng và lãng quên. Mặc dù những thứ Wabi Sabi đang ở thời điểm tinh thần hóa (hoặc vật chất hóa) – có nghĩa là chúng rất mong manh và yếu ớt thì chúng vẫn giữ một ưu thế không hề giảm sút trên cán cân và sức mạnh của cá tính khác biệt.

Bất thường. những thứ Wabi Sabi hoàn toàn xa lạ với những thẩm lối mỹ thông thường. Khi chúng ta đã biết trước phương thức thiết kế “đúng đắn”, Wabi Sabi lại trầm tư đưa ra một phương thức “sai lệch”(24). Kết quả là những sản phẩm ra đời một cách méo mó, kỳ lạ, khó hình dung hoặc những gì mà người ta cho là xấu xí. Những thứ Wabi Sabi được trưng bày như một kết quả của một sự cố, như một chiếc bát đã vỡ và được gắn keo lại. Hoặc chúng phơi bày kết quả của một trục trặc tình cờ, như một tấm vải dệt bất bình thường của một chương trình máy hay một cách thức  cố ý làm sai.

Mối liên hệ mật thiết. Những thứ Wabi Sabi thường nhỏ nhắn và cô đọng, tĩnh lặng và hướng nội. Chúng đưa ra tín hiệu muốn đến gần hơn, chạm vào và tạo ra những liên hệ. Chúng thôi thúc ý muốn  rút gọn khoảng cách về mặt tâm linh giữa các vật và với cả con người.

Không gian Wabi Sabi thường nhỏ, biệt lập và riêng tư nhằm tăng sức mạnh tinh thần và chiều sâu suy tưởng. Trà thất Wabi Sabi, lấy làm ví dụ, diện tích sàn thường nhỏ hơn 100 feet vuông. Chúng thường có trần thấp, cửa sổ nhỏ, lối vào vô cùng bé và ánh sáng rất dịu. Chúng yên bình và tĩnh lặng và được bao bọc như một chiếc bào thai. Đó là một thế giới khác, một chốn hư vô mà cũng có thể là bất cứ nơi đâu. Trong trà thất-không gian Wabi Sabi, mọi thứ dường như được phóng lớn tầm quan trọng trong một sự đảo ngược tỉ lệ với kích thước thực sự của chúng.(25)

Khiêm tốn. Những thứ Wabi Sabi không màu mè và có vẻ ngoài quen thuộc. chúng không om sòm: “tôi quan trọng lắm” hoặc đòi hỏi là trung tâm. Chúng thường khá dè dặt và khiêm nhường nhưng không hề mất đi thứ quyền lực lặng lẽ. Chúng nhẹ nhàng tồn tại cùng phần còn lại của thế giới(26).

Những thứ Wabi Sabi có được giá trị của chúng chỉ trong mối liên hệ và quá trình sử dụng. Chúng không phải là những thứ khóa trái trong viện bảo tàng cần một sự đảm bảo hay công nhận của thứ văn hóa thị trường. Không cần bằng chứng về nguồn gốc cũng như không đời nào phụ thuộc vào nền tảng danh tính của người tạo nên chúng hay cái gì đó cá nhân. Thực tế, nó tuyệt nhất khi người làm ra không quá đặc biệt, vô danh hoặc ẩn danh.

Đất. Những thứ Wabi Sabi có thể nhận ra trong sự tồi tàn, không tinh xảo. Chúng thường được chế tác từ những vật liệu không xa rời nơi ban đầu chứa chúng. Đất thường có nhiều họa tiết sống động và mang lại cảm giác thô nhám khi chạm vào. Sự vi tế của chúng khó có thể phân biệt được.

Âm u. Những thứ Wabi Sabi thường mơ hồ, không rõ nét và giá trị mờ phai – như là những thứ chuẩn bị tan vào hư vô. Một khi – những cạnh sắc trở nên mềm mại, mờ xám. Một khi, những vật liệu tưởng chừng vô cùng rắn chắc, xuất hiện như những bọt biển. Một khi – những màu sắc bão hòa phai nhạt thành những sắc màu sương khói của buổi bình minh hay chạng vạng. Wabi Sabi đến trong một thứ quang phổ xám bất tận: xám nâu xanh, xám bạc đỏ, xanh chàm vàng..và nâu: nâu đậm pha xanh, màu xanh trầm..và đen: đen ánh đỏ, ánh xanh, ánh nâu…

Ít thường xuyên hơn Wabi Sabi có thể xuất hiện sáng sủa, nhưng thường là những màu nhạt và nhẹ kết hợp với một chút bất thường hư vô. Như thứ carton chưa bị tẩy trắng, màu của sợi gai, của giấy tái chế. Màu phấn bạc nơi búp non, màu nâu xanh của chồi đang nhú.

Đơn giản. Sự đơn giản là cốt lõi của Wabi Sabi. Hư vô, tất nhiên là một sự giản đơn sau cùng. Nhưng trước và sau hư vô, sự đơn giản thì không giản đơn. Để diễn giải điều này, Rikyu đã đưa nó vào trong trà , đơn giản là chính nó: nước, củi, động tác chuẩn bị, phục vụ người khác. Hơn thế nữa, Rikyu gợi ý nên rời xa kiểu đầu óc trạo động.

Nhưng làm sao ta có thể luyện tập sự kiên nhẫn mà cái giản dị đòi hỏi mà không phải vượt qua trong sự khổ hạnh một cách phô trương. Làm sao ta có thể tận tụy trong từng thứ nhỏ nhặt mà không thành kiểu cách quá đáng? Làm sao để đạt tới sự giản dị mà không vướng vào sự buồn tẻ?

Sự đơn giản Wabi Sabi có lẽ là một mô tả tốt nhất cho trạng thái quay về tỉnh thức, khiêm tốn, trí tuệ chân thật. Chiến lược chính của trí thông minh này là tiết kiệm vật chất. Bớt đi để đến gần với bản chất cốt lõi nhưng không làm mất đi sự nên thơ. Giữ mọi thứ sạch sẽ, không vướng víu nhưng không làm cho khô cứng (Wabi Sabi thường ấm và không bao giờ lạnh lẽo). Thường thì nó gợi ra một bảng vật liệu nghèo nàn. Nó cũng có nghĩa là đưa những nét đặc trưng trở về tối giản. nhưng không có nghĩa là loại bỏ chuỗi đan xen vô hình đã làm che mờ cái thấy vạn vật đồng nhất thể. Nó cũng không có nghĩa là bằng cách nào đó làm giảm bớt sự lôi cuốn và thú vị, đặc tính buộc ta nhìn vào là cái gì đó là ở bên trên, trên nữa và trên nữa.

Chú giải:

  • (1) Bên cạnh ý tưởng  không gian  lấy tre làm chủ đạo bên ngoài  bởi Teshigahara, cấu trúc còn lại thiết kế bởi Tadao Ando, Arata Isoyaki và Kyonori Kikutake. Công trình được gọi là “The Great Numazu event”, là một liên tưởng trực tiếp tới “Đại hội trà tại đền Kitano” tổ chức tháng 11 năm 1587, có quy mô lớn nhất tính tới thời điểm đó trong lịch sử. Vị thống soái Toyotomi Hideyoshi, sau khi chiếm được vùng phía nam đảo Kyushu, ban hành một sắc lệnh tới những người đang thực hành trà đạo, bất kể giàu nghèo, phải tham dự vào ngày hội của ông ta được tổ chức tại đền Kitano tại Tokyo. Khoảng 800 lều bằng gỗ thông đã được dựng lên kín sân khu đền thờ.
  • (2) Xuyên suốt cuốn sách này, khái niệm”thẩm mỹ” ý nói tới những giá trị  và quy tắc chủ yếu – đường lối để có những nhận thức và quyết định đúng đắn về thẩm mỹ.  Tiêu chuẩn về một giá trị “thẩm mỹ” là thứ nhất nó phải khác biệt (sự khác biệt nổi lên với những thứ hỗn loạn nhập nhằng, thường thường chứ không phải sự khác nhau đơn thuần). Hai là phải rõ ràng sáng sủa (thẩm mỹ nói tới phải định nghĩa được – rõ ràng – thậm chí cả những giá trị thẩm mỹ về những thứ mơ hồ. Ba là phải không gián đoạn.
  • (3) Trước đây, Wabi Sabi là một hệ thống cấu trúc không chính thống. Liệu sự chạm tới của cuốn sách này có là đúng đắn  không? Sen no Rikyu, vị thầy tối cao Wabi-Sabi xét theo học thuật, đã như một bằng chứng để có thể phát biểu rằng có thể nắm được tinh yếu của quy tắc hay vấn đề nếu thấu triệt nó một cách hoàn toàn. Sau đó nếu một ai khao khát, một dạng phát sinh mới có thể hiệu chỉnh để đáp ứng những nhu cầu của hiện tại. Ở một nghĩa nào đó, tác giả của cuốn sách này đã làm như vậy với Wabi-Sabi.
  • (4) Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ và đã lan truyền sang Trung Hoa ở thế kỷ 6 sau Công nguyên, nơi mà nó đã được phát triển rộng khắp hơn. Đạo Phật truyền bá tới Nhật bản vào khoảng thế kỷ 12, nhấn mạnh vào cái “nhận biết chân thật vượt ra ngoài mọi kiến giải”. Cốt tủy của cả Wabi-Sabi và Thiền là vượt lên cái nhìn và suy nghĩ thông thường về vạn vật. Hư vô chiếm vị trí trung tâm của lý thuyết trừu tượng Wabi-Sabi cũng như trong Thiền tông.
  • (5) Mọi công việc làm ăn của Iemoto ở Nhật được sắp xếp trong một cấu trúc kim tự tháp, đứng đầu là Iemoto. Một phần học phí của học viên được trả trực tiếp cho gia sư đã động chạm tới quyền lợi Iemoto và vì vậy, những người đứng đầu kế nhiệm này (thường là con trưởng), đã cắt lấy phần đó. Ngày nay, rất nhiều gia tộc Iemoto vô cùng giàu có đã mở rộng phạm vi công việc kinh doanh tới những lĩnh vực khá xa rời thứ văn hóa mẫu mực.
  • (6) Sự phân cực “Đông” –  “Tây” chỉ là một cách gọi tắt nhằm thuận tiện cho việc diễn đạt. Cũng như việc sử dụng tên của những người, sự kiện nổi tiếng như là biểu tượng cho thứ văn hóa được công nhận trên một thế hệ. Đặc biệt cẩn thận là thứ nên học trong đức tính tiêu biểu của người Nhật cũng như phương Đông. Nhất là sau thế chiến thứ 2, rất nhiều sáng kiến và giá trị của phương Tây đã phát triển thành sáng kiến và giá trị của Nhật Bản, kết quả là thẩm mỹ Nhật Bản đã từng bước thay thế cho cái đến từ châu Mỹ hay châu Âu.
  • (7) Có một vài sự tương thích khá thú vị giữa chủ nghĩa hiện đại và Wabi-Sabi. Trong xã hội Nhật bản hiện đại, lấy ví dụ, cái mà ta thấy mang phong cách Wabi-Sabi trong trà thất hay nhà hàng thì lại nằm trong không gian hiện đại của các tòa cao ốc toàn kính và thép. Thậm chí rất lạ là  Kobori Enshu(1570-1647), một trà sư, lại nổi danh với thiết kế cung điện biệt lập Katsura ở Kyoto. Với mặt bằng mở và trang trí không màu mè kết hợp đã có ảnh hưởng lớn lên tư duy của rất nhiều kiến trúc sư thời kỳ đầu hiện đại ở phương Tây. Dù Enshu thực tế có là một nhà thiết kế hay không, công trình Katsura đã có ảnh hưởng ngấm ngầm, gián tiếp đưa Wabi-Sabi vào thành một trong những tinh thần chính của chủ nghĩa hiện đại.
  • (8) Theo lý tưởng của một trà thất thì phải là một tổ hợp của những nghi lễ mà trong đó mọi người có mặt đều vào cuộc. Như một chỉ dẫn cơ bản và duy nhất của nhà soạn nhạc John Cage đã nêu rõ ra phương pháp và nghi thức, rằng mỗi một nghi lễ đều phải tạo ra một không gian nghệ thuật ghi dấu ấn như một tác phẩm. Bởi hầu hết mọi người tham gia đều được coi như những chuyên gia, hiểu biết của họ được hình thành dần trong chính cấu trúc của nghi thức (mỗi thiết kế tinh tế đều gợi nhắc tới những nghi thức, thể văn thơ, cuộc trò chuyện từ xa xưa..) , Vì vậy mà những nghi thức sau này thậm chí còn sâu sắc, nhiều lớp lang ý nghĩa phức tạp hơn.
  • (9) Vào thế kỷ 16, trà thất tựa như những sân golf hiện nay cho giới kinh doanh ở Nhật. Đó là nơi những thương gia giầu có gây dựng những mối quan hệ làm ăn mới, đó cũng là nơi cho những binh lính xả hơi sau khi kết thúc trận đánh và ăn mừng chiến thắng. (Tất cả binh lính đều được học về trà đạo trong quân đội)
  • (10)Có rất nhiều giai thoại, hầu hết chúng đều được thêu dệt hoặc tô điểm thêm cho mục đích truyền bá tư tưởng trong lịch sử trà đạo. Một câu chuyện kiểu như vậy là về bài “nhập môn” của Rikyu trước khi ông được chấp nhận làm đệ tử của vị trà sư Takeno Joo. Rikyu được sai quét dọn lá rụng trong vườn. Đầu tiên ông quét cho đến khi không còn sót một chút rác nào. Sau đó, trong một cử chỉ đầy hàm ý Wabi Sabi, ông tới lắc một thân cây lớn cho vài chiếc lá rơi xuống. Wabi Sabi, như một minh chứng ở đây, đó là sự sạch sẽ nhưng không khô khan và khắc nghiệt. Cũng gần giống như vậy trong một giai thoại khác kể khi Rikyu đã trở thành trà sư và người muốn làm học trò là con trai ông. Trong giai thoại này thì Rikyu đã rung cho lá rơi như một lời quở trách tới người con trai đã dọn khu vườn quá sạch sẽ đến độ không còn một chút lá nào.
  • (11)Đầu tiên Wabi Sabi là những chất liệu mà Rikyu và những người bạn đồng liêu tìm thấy trong nhà ở của người nông dân trong những chuyến đi. Rốt cuộc, Rikyu trở thành một “giám đốc sáng tạo” và kiêm luôn thợ thủ công để chế tác những thứ mang thứ cảm giác mới mẻ này.
  • (12)Phong cách trà thất như một túp lều nhỏ bé với việc sử dụng những đồ pha trà thô mộc đi ngược lại trào lưu kiểu cách của xã hội thời bấy giờ thỉnh thoảng được ví với cái cách Marie Antoinete trưng bày và sắp đặt những cô gái chăn cừu và vắt sữa, phục sức bằng váy vải sợi bông và mũ rơm, trong những túp lều của người nông dân được dựng lên trong một góc của khu vườn cung điện Versailles. Hoàn toàn có thể nói rằng, những thứ mà Rikyu làm hoàn toàn nghiêm túc hơn nhiều. Dụng ý thẩm mỹ sâu sắc đi ngược lại với những thú vui mang tính giả trí mới lạ đơn thuần. Những người theo sau Rikyu sau này, đã từng (và đang) rất giàu có, cố tình sống theo lối nghèo nàn  kiểu Wabi Sabi, lại dường như gần với phong cách của Marie Antoinete hơn. Vài túp lều “giản dị” của họ được làm từ những vật liệu đắt tiền nhất và chế tác  khéo léo nhất, đôi khi còn có giá hơn cả căn biệt thự lớn. Những đồ pha trà trông có vẻ khiêm nhường của họ thực ra lại cực kỳ đắt tiền.
  • (13)Thật khó để hiểu Rikyu thực sự định nghĩa thế nào về Wabi Sabi khi mà hầu như tất cả chúng ta đều chỉ biết về lý tưởng của ông qua hai nguồn tham khảo. Tài liệu quan trọng thứ nhất là cuốn Nanbo Roku, được cho là viết sau khi Rikyu mất bởi Nanbo – một thiền sư , học trò và cũng là bạn của Rikyu hồi ở quê nhà Sakai (gần Osaka). Nhưng vài học giả cho rằng đó chỉ là thứ giả mạo mưu mẹo, phiên bản hợp pháp duy nhất giúp ích cho việc “khám phá” này viết bởi Tachibana Jitsujan, một võ sĩ Samurai và là người thực hành trà đạo, sau kỷ niệm 100 năm ngày mất của Rikyu. Một tài liệu khác, Yamanoue Sojiki, một tập ghi chép lại những chủ đề và đối tượng được sử dụng các buổi trà đạo mà người học trò lâu năm của ông là Yamanoue Sogi. Cả hai cuốn sách đều được sử dụng dể thẩm định vị trí của những tư tưởng hay kiểu cách có liên quan tới trà đạo và Wabi Sabi.
  • (14)Một mặt khác của sự thực hành này là lòng tin, từ Thiền, là thân thể, chứ không phải ngôn ngữ, là nơi cất giấu của hiểu biết và kỹ thuật. Do đó trà đạo tập trung vào những bài thực hành “vô trí”.
  • (15)Giao tiếp giữa con người, dường như có vẻ là phần thứ yếu theo lý tưởng của Rikyu trong trà đạo Wabi Sabi. Cuốn Nanbo Roku đã khuyên những người thực hành không được đồng bộ cảm giác của mình với những vị khách trừ phi nó xảy ra một cách tự nhiên. Nói cách khác: đừng để những liên hệ con người cản trở bạn trên con đường đạt tới và duy trì “cảnh giới” Wabi Sabi. Vật dụng cũng như con người được đối xử như nhau trong Wabi Sabi. Wabi Sabi không phải là thứ triết học vị nhân sinh, cũng không phải là cái gì đó thiêng liêng thần thánh về cuộc sống, về lòng nhân đạo của con người, hay về cái thiện – cái ác.
  • (16)Sabie (sa = trà, bi = vẻ đẹp, e = gặp gỡ, có nghĩa là “hội ngộ vẻ đẹp của trà”) là tên của một tổ chức của những người yêu văn hóa trà cấp tiến. Đứng đầu là Masakazu Izumi, con thứ (vì vậy không phải là Iemoto trong tương lai) của một gia đình có trường dạy về trà đạo ở Nhật. Đường lối nghệ thuật của hội này ảnh hưởng cơ bản từ ngày đầu bởi Ikko Tanaka, một trong những chuyên gia đầu ngành của thiết kế đồ họa và Junji Ito, một nhà phê bình nghệ thuật tiếng tăm và là điều phối viên nghệ thuật.
  • (17)Kết quả hữu hình của Sabie tới nay là những trà thất và trà cụ, nguyên được trưng bầy ở những cửa hàng bách hóa ở Nhật. Nhưng có vài sự nghi ngờ về tính chất của Wabi Sabi. Hầu hết chúng có vẻ như quay lại thời điểm trước Rikyu, đó là trước khi có một sự hợp nhất về định nghĩa của khái niệm Wabi Sabi. Chúng dường như gần hơn với những thứ tiêu khiển mua vui tinh xảo đẹp đẽ.
  • (18)Cho đến giờ, Wabi Sabi chưa bao giờ được xuất hiện một cách chính thống và ở một ngôi thứ cao. Qua việc áp đặt cấu trúc trí tuệ khôn ngoan này, tác giả cảm thấy Wabi Sabi trở nên dễ thấu hiểu hơn.
  • (19)Một phép so sánh trực quan cho sự tồn tại và biến mất, bằng chứng cho sự phù du là hoa anh đào, một trong những hình ảnh biểu tượng mạnh mẽ nhất của văn hóa Nhật Bản. Mùa xuân hoa anh đào chỉ nở rộ trong vòng một tuần. Nhưng chỉ cần một cơn mưa hay gió bất chợt có thể làm những cánh hoa phớt hồng mỏng manh kia rơi xuống bất kì lúc nào. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, trong cả đất nước, từng nhóm lớn nhỏ khác nhau trải chiếu hoặc những tấm chăn mềm ngồi dưới gốc cây. Ngay lập tức đã có một không gian – không giống với cấu trúc thường ngày – một lễ hội ngắm hoa diễn ra. Sự vĩnh cửu và xót xa của hình ảnh hoa anh đào gợi trong ta một suy nghĩ về tính phù du mong manh của nó. Một khoảnh khắc trước khi từ giã, một khoảnh khắc trước khi mọi thứ tàn tạ…
  • (20)Trong ngữ cảnh nói tới “tự nhiên” Wabi Sabi có một vài ý nghĩa. Nó gợi tới cái giới hạn thể lý không thể chạm tới được của con người: mọi thứ đều trong trạng thái nguyên thủy và trong suốt của nó. Trong ý này, tự nhiên là những thứ như đất, cỏ cây, động vật, sông núi và các lực tự nhiên- có lúc hiền lành, có lúc dữ dội – mưa, gió, nước, lửa,v,v..nhưng tự nhiên trong nghĩa Wabi Sabi cũng chứa đựng cả những ý nghĩ của con người, những suy nghĩ và tạo tác không mang tính tự nhiên. Trong ý nghĩa này Wabi Sabi ngụ ý nói tất cả cùng tồn tại, bao gồm cả những quy luật tồn tại mà ta không thể thấy. Và trong nghĩa này Wabi Sabi  có sự tương đồng với phương Tây, lý tưởng tất cả đều đồng nhất với Chúa trời.
  • (21)Một hình thức của trà đạo vẫn tồn tại cho tới ngày nay là tập trung nghiêm túc vào mỗi vật dụng trong nghi lễ. Nó có nghĩa là không chỉ chú ý vào chi tiết của ấm trà, chén trà, bình đun nước và những thứ tương tự như thế mà còn là những thứ như bình cắm hoa, thậm chí là than củi được dùng để đun nước. Những thứ xưa kia diễn ra tự nhiên thì giờ là sự bắt chước lặp lại cứng nhắc – có những quy tắc rõ ràng về thời điểm, cách thức sử dụng dụng cụ và khi nào thì đưa ra những câu hỏi về chúng – nhưng ít nhất điều này cũng bắt ta phải dành sự chú ý và hy vọng rằng chúng ta có thể thực sự “thấy” mọi thứ trước mắt ta.
  • (22)Dịch bởi Toshihiko Toyo Izutsu
  • (23)Những dụng cụ pha trà ban đầu được  thiết kế bởi Rikyu đã từng là những dụng cụ thủ công vô danh trong các hộ gia đình: những đồ vật hoàn toàn không có một vị thế. Nhưng vị thế, nó dường như, luôn xoay sở để đòi hỏi chính nó bất kỳ khi nào có cơ hội, và hầu hết đột nhiên tăng giá cho những thứ trước đây là xấu xí tầm thường. Một khi cái gì đó trở nên đáng giá, đắt đỏ, nó tự chấm dứt giá trị Wabi Sabi. Nó trở thành, thay vào đó là đồ vật đắt đỏ gợi nhớ tới cái đã từng là một thời khắc sống động. không thể nói rằng có quá nhiều những thứ “có vẻ”  Wabi Sabi trong bảo tàng trên khắp đất nước Nhật bản. Nhưng chúng chỉ là những cái vỏ, những thứ nhìn có vẻ Wabi Sabi nhưng không còn giá trị thực sự nữa. Trong vài năm cuối thập kỷ 60 đầu thập niên 70 có một hoạt động nghệ thuật Nhật bản gọi là  Mono-ha (học hỏi từ mọi thứ) đã có cùng chung đặc tính trân trọng mọi thứ trong khoảnh khăc của Wabi Sabi. Những nghệ sĩ Mono-ha sử dụng những chất liệu thiên nhiên như cỏ cây, đá sỏi và tạo nên một sắp đặt nghệ thuật. Một phần của chỉnh thể trong tác phẩm của họ là đặc tính không thể sưu tập được. (Không một nhà sưu tầm hay bảo tàng nào có thể sở hữu chúng). Như một nhà phê bình đã nói: “Chúng từ chối khái niệm về sự hoàn hảo và hoàn tất của một sự vật”. Những tác phẩm tạo hình của họ hoàn toàn chỉ là một sự hợp nhất tạm thời…không có căn nguyên tạo nên giá trị tiền bạc.
  • (24)Nhà sản xuất và nhân công luôn phấn đấu để gia tăng độ đồng đều và khuôn mẫu của sản phẩm. Mỹ thuật công nghiệp và kiến trúc đều dựa trên những bản vẽ hoàn chỉnh và chính xác. Nếu làm thay đổi quá trình hay cấu trúc, ta sẽ phải trả một giá rất đắt. Nhưng rất nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế thì chán nản với những thứ hoàn hảo. Những thứ đang trong quá trình, như một tòa nhà trong giai đoạn phác thảo bao giờ cũng hình tượng hơn chính nó khi đã hoàn thành. Những cái khác biệt và bất thường nên thơ thật khó để sản xuất hàng loạt. Một yếu tố nữa góp phần chống lại sự cái bất thường là sự tràn lan của những mẫu mã thiết kế dựa trên hình học chính xác Ơclit. Mọi sản phẩm sản xuất hàng loạt thì đều là những kiểu đường thẳng, đường tròn, đường cong hay tam giác hoàn hảo. (Những hình học cứng nhắc, không trùng hợp đã trở thành những biểu tượng thị giác của chính ngành thiết kế). “Luật” của hình và dáng tự nhiên thì phong phú hơn. Năm 1980 cuốn “Phân dạng hình học của tự nhiên” của nhà toán học Benoit B Mandelbrot đã làm sáng tỏ những dạng hình học khác có thể sử dụng trong toán học để mô tả những dạng hình và bề mặt bất bình thường như sần sùi, rối, lưa thưa hay nhăn nhúm…
  • (25)Wabi Sabi là phản đề của lý tưởng về một “vũ trụ toàn vẹn”, khái niệm về một thứ nguyên mẫu có thể đạt chức năng thẩm mỹ ở bất kì tỷ lệ nào. Từ góc độ Wabi Sabi mật độ thông tin chứa đựng bên trong mọi thứ có thể thay đổi, cũng như với con người trên từng thang độ. Chắc chắn rằng thiết kế cho rằng một cái cabin thì khác với nhà ở. Nhưng có vài kiến trúc sư xử lý với thiết kế  một tòa nhà mà không hơn gì một mẩu phóng to của đồ đạc.
  • (26)Triết lý thẩm mỹ của nhà trọ lâu đời và nổi tiếng nhất của Kyoto (quán trọ 300 tuổi Tawayara, 700$ một người một đêm bao gồm hai bữa ăn), tóm lại hai quy tắc kiên định của Wabi Sabi là (1) “Không một thứ gì hay chi tiết nào trong bất bất kì không gian nào nổi bật hơn những thứ còn lại” và(2) “Bạn không cần tôn sùng những thứ cũ kỹ để tưởng nhớ thời xưa. Nếu nó mới và hợp lý, hãy dùng chúng”
Advertisements

, , , ,

Leave a comment

Nhật Bản – một xã hội đảo ngược với Việt Nam?

Cộng với những hiểu biết vốn có từ trước năm ngày du lịch bụi ngắn ngủi, đủ để tôi cảm thấy xã hội Nhật, người Nhật là cả một hình ảnh đảo ngược của xã hội Việt, người Việt.

8 – 6 -2013

Xuất phát từ Hà Nội, sau một chuyến bay đêm hơn bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt đầu một ngày mới trên chiếc xe từ sân bay Narita về Tokyo. Không khí dịu mát như một ngày cuối thu đầu đông ở đồng bằng sông Hồng, song cái lạnh ở đây lại có khí vị vùng biển bắc, cái cảm giác mà tôi cảm nhận khi đến Leningrad vào năm 1988.

Nhìn chung quanh, thấy khung cảnh thoáng rộng sạch sẽ, cây cối đạm bạc. Ghé lại một trạm bên đường để xe mua xăng, bắt gặp không khí của nước Nhật bình thường, người nào người nấy chăm chú vào công việc.

Có cái lạ là, khi đến Tokyo, tôi cũng lại gặp một khung cảnh vắng lặng như vậy. Không những trên đường người đi bộ thưa thớt mà cả ô tô đi lại cũng ít. Trong khi đó, lại biết rằng Tokyo có đến 20 triệu dân và hàng ngày có đến 40 triệu người lai vãng. Nơi tôi tới chỉ là ngoại ô chăng? Thành phố chính ở đâu? Như đã đoán được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn du lịch sớm giải thích, đây chỉ là phần trên mặt đất, còn trong lòng đất có đến bốn thành phố nữa. Ở đó cũng có giao thông, xe điện ngầm, những phố buôn bán; ở đó mặc dù rất đông, nhưng rất trật tự.

Ngày đầu xa lạ

Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến tham quan là phía ngoài hoàng cung Nhật. Cũng như mọi người dân nội địa, chúng tôi không được vào tham cung điện chính của hoàng gia, chỉ được đứng và quan sát từ xa và nghe người giới thiệu kể chuyện lại về một cuộc sống rất khổ hạnh của những người sống trong cung điện đó.

Người Nhật quen chấp nhận tình trạng cách ly này bởi họ hiểu những người sống trong hoàng cung phải nhận vai hình mẫu của nước Nhật, có nghĩa phải chịu rất nhiều áp lực. Có những người con gái trong đó cảm thấy thật nhẹ nhõm nếu lấy được người chồng dân thường, ra khỏi hoàng cung, để được sống như mọi người bình thường.

Buổi chiều chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Tòa thị chính, ở đây có tháp truyền hình cũ, từ đó có thể nhìn ra cả Tokyo.

Có điều mất vui là ngay trong buổi chiều đầu tiên này, đoàn du lịch chúng tôi đã có một người bỏ trốn. Khi cả đoàn lên tháp rồi lần lượt xuống dần thì anh ta lẩn mất. Sau mới biết, từ Hà Nội anh ta đã chuẩn bị để làm việc này. Cái ba lô còn lại trên xe ô tô của anh nhẹ tênh. Theo sự giải thích của người hướng dẫn, có lẽ đây là một người Việt được bố trí sang Nhật để trộm cắp thuê. Dân Việt có hộ chiếu bên đó, khi phát hiện ăn cắp thì sẽ bị trục xuất khỏi nước Nhật. Nên họ phải thuê những người trong nước sang làm chân rết. Người này có bị tống về thì cũng không mất đầu mối.

Trong lúc vẩn vơ chờ làm các thủ tục, khoảng hơn một tiếng đồng hồ, tôi nhìn quanh khu Tòa thị chính, thấy một không khí vắng vẻ. Nhớ nhất là hình ảnh một cô gái dắt hai con chó đi đường. Cô chăm sóc chúng hết sức cẩn thận. Khi chúng đói lấy thức ăn và theo dõi chúng ăn, bình thản chờ đợi như bà mẹ đang đi chơi với những đứa con thân yêu của mình.

Tâm thế mới của phụ nữ Nhật

Để giải tỏa nỗi chán chường của bọn tôi, người hướng dẫn giới thiệu một tình thế của người dân Nhật mà trước kia chúng tôi không thể tưởng tượng nổi.

Anh cho biết , hiện nay ở nước Nhật có đến 62% người sống độc thân. Nếu nhìn trên đường, chúng ta luôn thấy những người đàn ông chăm chú nhìn về phía trước. Họ buồn, như là một thứ nhân vật phụ của cuộc đời. Còn chính phụ nữ mới là những người đầy sức sống và thách thức.

Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật –từ nhỏ, đã được nghe câu nói ghi nhận sự tận tụy của người phụ nữ Nhật với gia đình.

Sau chiến tranh, khi nước Nhật bắt tay khôi phục kinh tế, người đàn ông tập trung vào công việc của mình và ít khi về nhà trước 7h tối. Mọi việc liên quan tới gia đình và con cái đặt cả lên vai vào người đàn bà. Họ tự nguyện làm như thế cả đời.

Hôm nay đây tôi còn chứng kiến cảnh một đôi ông bà già trên đường; khi tới chỗ nghỉ, người phụ nữ rút chiếc khăn mù xoa trong túi ra mời chồng mình ngồi.

Nay mẫu phụ nữ loại đó chỉ còn thưa thớt.

Bề ngoài người phụ nữ Nhật không tự biểu hiện lộ liễu như người Việt. Màu sắc phần lớn trang phục là màu trắng, màu xám và màu đen. Như đang tự giấu mình đi. Không ai tô son, trát phấn… Nhưng cuộc sống bên trong thì, theo anh hướng dẫn viên, thực sự nồng nhiệt. Khoảng mươi, mười lăm năm gần đây, phụ nữ Nhật nổi loạn, nhiều người không lấy chồng vì không thích phụ thuộc vào gia đình chồng và rất tự lập trong đời sống riêng tư.

Ở Nhật, đời sống tình dục được coi bình thường như cơm ăn nước uống và phụ nữ có phố đèn đỏ của mình. Ở đó, đối tác của họ là những thanh niên mới lớn và lấy việc thỏa mãn nhu cầu phụ nữ làm nghề phụ. Người ta có cách giữ bí mật cho cả hai bên.

Trong túi đàn bà, từ em thanh nữ mới lớn đến đám sồn sồn tuổi trung niên luôn có ca-pốt. Và họ chủ động tìm tới những đối tượng để có thể thỏa mãn những khát khao bất chợt nhưng chính đáng.

Trong các món quà trao nhau nhân ngày lễ tết, chính phụ nữ là màu nóng, còn nam giới được tượng trưng bởi màu lạnh.

9 – 6

Niềm vui với những công việc bình thường và tính tự lập được rèn từ nhỏ

Buổi sáng chủ nhật, bọn tôi đến khi vui chơi Disney Land nổi tiếng. Ấn tượng lớn nhất, vẫn là những người phụ nữ làm công việc như hướng dẫn người đi tham quan và bảo vệ trật tự chung quanh đó. Những công việc có vẻ tẻ nhạt như thế được người Nhật làm với tất cả niềm vui và sự háo hức khiến người Việt chúng ta gần như không thể hiểu nổi. Đứng bên cạnh những đoàn xe lửa làm theo lối cổ, các nhân viênphục vụ không những ân cần giúp đỡ cho người lên xe, mà còn tình cảm vẫy chào khách lên đường, rồi lại hào hứng đón khách xuống khi hết vòng quay.

Người hướng dẫn du lịch giải thích thêm với chúng tôi, người Nhật rất nghiêm túc trong việc công. Tất cả công chức đi làm đều mặc Âu phục. Với họ, làm công chức không phải chỉ để kiếm tiền mà để phục vụ xã hội, việc làm hợp đạo nghĩa làm người.

Một ấn tượng khác, là trẻ con trên nước Nhật rất ngoan và quen tự lập. Trên đường mỗi trẻ có túi thức ăn riêng, tự lấy thức ăn khi muốn. Thông thường các em đi theo người lớn rất đàng hoàng. Một ngày ở công viên không nghe tiếng khóc nào của bọn trẻ.

Người Nhật có tinh thần tự trọng cao độ. Trong hoàn cảnh nghèo khó, ít khi chấp nhận sự giúp đỡ của người khác mà làm được cái gì thì hưởng cái đó. Điều đó được rèn từ nhỏ. Ở trường nuôi dạy trẻ, từ lúc biết bò, đứa trẻ đã phải tự bò đến bàn thức ăn để lấy thức ăn. Ở lớp lớn hơn, đứa trẻ tự gấp lấy quần áo và lo giữ vệ sinh.

Từ chuyện giao thông tới chuyện pháp luật

Đã hơn chục lần đi theo các đoàn du lịch nước ngoài, tôi thấy trên xe thường người Việt Nam chỉ hay pha trò đùa bỡn, trêu chọc nhau, bàn chuyện ăn uống, nói tục. Đa số người mình đi du lịch để làm dáng, để tiêu tiền, không mấy ai tính chuyện đi để hiểu biết về xứ sở mà mình đặt chân tới. Những người hướng dẫn du lịch Trung quốc chẳng hạn, rất hiểu cái sự tầm thường đó. Trên xe, thể theo yêu cầu của người mình, họ nói những chuyện trong thâm cung bí sử, nhưng toàn thứ vụn vặt gây tò mò. Nói chung trình độ những người hướng dẫn cho các đoàn VN ở các nước gần ta rất thấp. Người có chí chắc đi học tiếng Anh tiếng Đức chứ chả ai chịu học tiếng Việt làm việc với các đoàn Việt.

May mắn lần này chúng tôi gặp người hướng dẫn khác hẳn. Anh cũng là người Việt. Sang Nhật học, sau đó nhập quốc tịch Nhật và đưa cả vợ con sang đó. Trong những lúc rỗi trên xe, anh Đức (tôi không biết họ, chỉ nhớ tên) giới thiệu với chúng tôi rất nhiều về đặc sắc của nước Nhật, và điều đó rất cần thiết với những người từ Việt Nam tới.

Ví dụ có lần anh nói về chuyện giao thông trên đường.

Chúng ta biết rằng người Nhật đi lại rất từ tốn và người ta nhường đường nhau khi có việc cần tranh chấp. Trong câu chuyện của mình, anh Đức có lưu ý thêm một điều. Luật pháp được soạn thảo rất tỉ mỉ và nói cho cùng là rất nhân bản. Một mặt nhà nước bố trí cảnh sát theo dõi tốc độ của xe trên đường, nhưng mặt khác, họ cho phép các nhà sản xuất cung cấp cho lái xe các thiết bị cần thiết có khả năng cho biết chỗ nào cảnh sát giao thông đứng bắn tốc độ, để tự động điều chỉnh lại. Tức là người làm luật muốn bảo vệ quyền được đi nhanh hơn của xe cộ trong hoàn cảnh cho phép.

Sự áp đặt luật pháp của những người cầm quyền ở đây cũng là rất mềm dẻo.

Khi có người lái xe phạm lỗi, cảnh sát, từ lúc yêu cầu giữ lại đến lúc lên xe để đặt vấn đề phạt, đều có thái độ lịch sự tôn trọng đối tác, tìm cách thân thiện bàn bạc, chứ không phải một chiều hạch sách rồi muốn bắt người ta thế nào cũng được. Khi không thống nhất được với nhau, họ để dành quyền phán xét cho tòa án,– cố nhiên đó không phải loại tòa án bao giờ cũng nhăm nhăm bênh cảnh sát như người nước mình. Danh tính của những người bị phạt không bao giờ bị làm lộ.

Tôi cho đó mới là sự tôn trọng, sự khuyến khích người dân sống và làm theo luật pháp một cách hữu hiệu.

Pháp luật — một bên nặng về răn đe trừng trị và một bên biết “cận nhân tình”

Có lần đọc cuốn Đông Á – Đông Nam Á – Những vấn đề lịch sử và hiện tại (nx b Thế giới, 2004), thấy ông Vũ Minh Giang (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói tới những điểm tương đồng trong tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có nhấn mạnh cả hai bên đều chú trọng pháp luật (sách trên tr. 62).

Hôm nay nhớ đến đoạn này bỗng thấy phì cười. Vì sự thật trong khi ở nước người, chính quyền hết sức tôn trọng và đặt mình vào trong pháp luật thì ở mình, pháp luật được soạn ra để áp dụng với dân, chứ nhân viên công quyền đều hiểu ngầm rằng mình là người đứng ngoài. Mà người dân cũng vậy, thấy pháp luật là chuyện phiền phức, song mặc nhiên chấp nhận, lại còn tìm thấy niềm vui trong việc làm ngược pháp luật. Trừng phạt răn đe nặng nề đến độ dã man được xem như một sự cần thiết.

Để hiểu tính mềm dẻo mà chặt chẽ của pháp luật ở Nhật Bản, hãy trở lại câu chuyện về nhu cầu phụ nữ, phố đèn đỏ, mua dâm và bán dâm. Một mặt theo phong tục tập quán cổ, luật nước Nhật cấm tất cả sự tiếp xúc nam nữ ở dạng trần trụi. Thế nhưng đồng thời họ vẫn thấy con người Nhật Bản đã thay đổi, nên các nghị sĩ khi làm luật đã nghĩ ra cách để bảo vệ sự tiếp xúc này, không để dân bị ràng buộc vào luật một cách máy móc. Ví dụ như họ sẽ phạt nếu một trong hai bên không có vật lạ trong người khi tiếp xúc. Mà vật lạ này hiểu theo nghĩa rất rộng, nếu phụ nữ có một vòng đeo tay hoặc người đàn ông có một cái răng giả thì tức là đã không phạm luật. Thế thì còn phạt được ai nữa? Những điều này, theo tôi rất nhân đạo. Còn thuần túy truy bức như ở ta là bất cận nhân tình và sẽ sinh ra gian dối.

Các cửa hàng đồ cũ và thói quen cộng tác trong mọi việc

Nhân khi vào cửa hàng đồ cũ, anh Đức giới thiệu cho chúng tôi biết ở Nhật, loại hàng này có cả một hệ thống phân phối. Những năm 70 – 80 người dân bình thường có thói quen thải loại đồ cũ ra theo hình thức rác và người Việt Nam sang nhặt mang những đồ cũ đó đem về trong nước. Nay họ có ý thức thu gom và phân phối lại. Nhân đây, anh Đức kể về việc tổ chức làm ăn ở xứ này. Là khi có một công việc hợp lí thì nó cũng được phổ biến khắp nước Nhật. Những người cùng ý tưởng tự tổ chức thành những công ty, không có người nào đứng ngoài công ty đó mà có thể cạnh tranh với họ được. Người Việt mình dành được miếng mồi thì ăn lẻ, không ai cộng tác được với nhau, mà chỉ dìm dập nhau, phá nhau. Ở Nhật, nếu một người có sáng kiến chung thì sẽ đưa ra để phục vụ lợi ích chung.

10 – 6

Chung quanh núi Phú Sĩ

Tối hôm qua, ngủ đêm tại khách sạn thuộc khu Hà Khẩu Hồ (tôi đọc theo âm Hán Việt) thuộc khu vực núi Phú Sỹ, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào gia đình người Nhật. Ăn một bữa cơm theo kiểu gia đình người Nhật vẫn ăn. Xong, được bố trí đến khu vực tắm. Nam chung một bên, nữ một bên, nhưng đã xuống tắm phải bỏ hết quần áo. Đêm, được bố trí ngủ lại căn phòng như của người Nhật. Việc xâm nhập sâu vào phong tục ăn ở như thế trong những lần đi các chuyến khác, bọn tôi không có dịp thực hiện.

Sáng dậy, đi quanh hồ, tôi chợt nhận ra rằng nhà cửa ở đây cũng nhô ra thụt vào mà không có lớp lang trật tự như mạn Giang Nam bên Trung Quốc. Vườn hoa ở các gia đình hay các công sở không nổi bật lên vẻ rực rỡ mà trông hơi có vẻ khổ hạnh và chỉ gợi chú ý bởi lùm cây hoặc một tảng đá nào đấy. Tất cả khu vườn quy tụ chung quanh vào vật trung tâm đó. Ngoài ra cây cỏ trong vườn thì kém, cỏ mọc rườm rà, thiếu một sự xử lý công phu. Các công viên chỉ lo tạo ra sự kì bí mà tảng đá có vai trò vật chủ và mối liên hệ giữa đá và cây là nhân tố chính gợi nên một vẻ đẹp.

Ngồi xe lên núi. Các tài liệu du lịch đều nói rằng Phú Sĩ là biểu tượng của đất nước mặt trời mọc. Trước khi lên đến trạm 5 ở độ cao 2000m, chúng tôi phải vượt qua hàng chục cây số rừng. Nhưng khi đến nơi, ngôi miếu trên trạm 5 đó khá đơn sơ. Nói chung, chùa chiền của Nhật không hào nhoáng, lộng lẫy như đền chùa của Trung Quốc. Thu hút du khách nhất là việc đứng ở đấy chiêm ngưỡng cả ngọn núi trong tuyết phủ.

Đối với người Nhật, núi Phú Sỹ là biểu tượng cao nhất của sự thiêng liêng. Người ta theo dõi để không ai có thể lấy đi hòn đất nào chung quanh núi. Đã có những khách nước ngoài đến, định lấy những hòn đất đi và đều bị phát hiện.

Chung quanh núi là khu vực huyền bí, người ta nói có những người Nhật đã đến đây để sống những ngày cuối đời, tức là tự tử ngay trong khu rừng trùng điệp mà mãi về sau người ta mới phát hiện ra. Số người này đang tăng hàng năm.

Ấn tượng sau nửa ngày ròng ngồi ô tô

Từ giã Phú Sỹ, bọn tôi tới Owakudani, nơi có vết tích của miệng núi lửa phun trào cách cây 3000 năm. Sau đó, là chặng đường dài tới Nakoné và Nagoda.

Trước lúc qua Nhật, một người quen cũ đã nói rằng, do du lịch bụi, chắc là bọn tôi không có điều kiện để sử dụng những phương tiện hiện đại nhất như tàu cao tốc và phải di chuyển từ địa điểm nọ đến địa điểm kia bằng ô tô. Ông nói điều đó với sự ái ngại vì ở Nhật số người di chuyển bằng ô tô rất ít. Nhưng đối với tôi, cảm tưởng là được ngồi ô tô đi trên những con đường nhựa nhẵn bóng và hiện đại của nước Nhật cũng đã sung sướng lắm. Nữa là, sau một buổi chiều như thế, lại có may mắn gần như được nhìn gần vào một nước Nhật và hiểu thêm điều người ta hay nói “Xứ này nghèo về tài nguyên và chỉ có một thiên nhiên khắc khổ, nhưng đã chinh phục được thiên nhiên khắc khổ đó để trở thành một xứ giàu có.”

Nhìn một hai ngôi nhà lắt lẻo giữa một triền núi xa, tôi hỏi Đức họ sống ra sao thì được trả lời:

— Một gia đình Nhật định cư ở đâu thì chính phủ Nhật có trách nhiệm làm đường tới đó, bảo đảm hàng hóa lưu thông tới đó để họ có thể sống bình đẳng với mọi người.

Có một chuyện mà ở nhà tôi đã biết nhưng chưa thấy hết ý nghĩa của nó, đó là việc người Nhật không khai thác tất cả những rừng cây và vùng mỏ cũng khá giàu có của mình. Tất cả những đồ gỗ ở đây đều nhập từ nguồn lâm sản nước ngoài, cũng như các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp của họ. Đối chiếu với cách nghĩ Việt Nam, kể ra đây cũng là một sự lạ. Và lạ hơn hết là người Việt chúng ta còn cho chuyện tàn phá tài sản thiên nhiên là chuyện thường, không bán hết đi thì lấy gì mà ăn.

Nông thôn đô thị chung một mặt bằng

Lúc này trước mắt du khách không còn là một nước Nhật của các cao ốc và các khu đô thị thoáng đãng. Vùng đất nằm rải rác giữa núi non và bãi biển không có gì là hấp dẫn và mĩ lệ như các vùng biển của Việt Nam mình. Nhưng ở bất cứ nơi nào có điều kiện thì người nông dân Nhật vẫn cần cù sản xuất. Cảm giác còn lại trong tôi là một nước Nhật giống như một mặt bằng, giữa nông thôn và thành thị gần như không có sự chênh lệch. Nay, là thời, theo Đức kể, người nông dân Nhật làm ruộng bằng cách đi thuê các xí nghiệp nông nghiệp làm cho họ. Và đã có các hãng lớn chuyên làm nông nghiệp phụ trách giúp họ từ việc chọn giống, cày bừa đến bón phân và thu hoạch. Người nông dân chỉ việc ở nhà dùng tiền của mình đầu tư chứng khoán.

Người Nhật đặc biệt lo bảo vệ nguồn lương thực của mình, tạo cho xứ sở một thứ thức ăn không những ngon lành mà còn bảo đảm chuẩn khoa học không gạo nước nào có thể có được. Đã có những thời gian mà chính phủ Nhật do áp lực quốc tế phải nhập một số gạo của các nước khác, khi mang về phân phối cho dân thì không đâu người ta lấy, đến cả cho không cũng không ai nhận. Cuối cùng, số gạo đã mua buộc phải đem đi dùng làm hàng viện trợ cho các nước khác.

Đặt người Việt bên cạnh người Nhật

Cũng nhân thời gian rỗi trên đường xa, Đức kể với tôi về chuyện những người Việt Nam ở Nhật. Đức cho biết thật ra sau 4-1975, số người Việt sang Nhật không phải là ít, nhưng số có thể trụ lại được ở Nhật thì không nhiều và phần lớn là họ phải bỏ qua bên Úc hoặc bên Mĩ làm ăn. Việc du nhập vào cộng đồng Nhật, đòi hỏi sự nỗ lực đặc biệt mà người Việt không quen, chưa kể tiếng Nhật với nhiều người là khó học.

Chưa quen là như thế nào? Dù là mới tiếp xúc với người Nhật và văn hóa Nhật một cách đơn sơ, tôi vẫn có cảm tưởng người Nhật với người Việt Nam như hai đối cực, người nọ là thế giới đảo ngược của người kia.

Người Nhật có tinh thần gắn bó với xã hội, cấu kết với cộng đồng còn người Việt khôn lỏi, chạy vặt.

Người Việt thích phô trương còn người Nhật giấu mình sau vẻ ngoài bình lặng.

Người Việt ồn ào, lắm chuyện coi nơi công cộng là chỗ tự do buông thả còn người Nhật sợ nhất làm phiền người khác cũng như là bị làm phiền.

Bữa qua Miến Điện, tôi nhận ra một điều là không hiểu sao người bên đó có vẻ ít nói, trên đường không có cảnh vừa đi vừa cầm điện thoại tán chuyện. Có thể người Miến Điện không có tiền mua các loại máy mới? Nhưng Nhật là một nước giàu có. Sao dân họ vẫn không có thói nói lắm nói nhiều và xả ra cả khối lượng rác âm thanh ngập ngụa trên mọi ngả đường? Chợt nghĩ chính sự nói lắm nói nhiều nói một cách ba vạ đã giết chết sự suy nghĩ của người mình. Nó làm cho chúng ta thành một xã hội câm nín trước các vấn đề rất lớn đang phải đối mặt.

Xuất khẩu lưu manh

Hôm nay có đến hơn một giờ đồng hồ liền, Đức toàn kể chuyện người Việt sau 4-1975 tràn sang Nhật làm những việc gian dối như cờ bạc trộm cắp ra sao, cảnh sát Nhật đã từng bước đấu trí với người Việt để vô hiệu hóa các đồng bào lưu manh của chúng ta thế nào.

Chuyện đấu trí ấy tôi định ghi mà không sao theo dõi kịp nên đành bỏ. Chỉ nhớ nhất một chi tiết. Có nhiều người Việt sau khi kiếm bẫm bằng con đường bất chính trở ,liền lấy cái vốn thu được từ nước ngoài về làm vốn kinh doanh và trở thành đại gia.

Từ việc này nẩy ra hai ý nghĩ bổ sung:

1/ Ở các xã hội lành mạnh, đám nhà giàu là những người con ưu tú của dân tộc, họ như đầu tầu kéo cả cộng đồng đi theo. Ở một xã hội dở dang rồi biến chất như ở ta, một thời gian dài không công nhận tài sản cá nhân, thì ngược lại, đám nhà giàu phần lớn là đám lưu manh, khoác áo quan chức làm việc lưu manh. Họ phất lên trong chiến tranh bằng cách buôn lậu những hàng quốc cấm xuyên quốc gia. Với những đồng tiền kiếm được bằng các thủ đoạn xấu xa, khi trở về nước làm kinh tế, họ có góp phần thúc đẩy sự làm ăn và vì thế cả người dân lẫn chính quyền hoan nghênh họ. Nhưng lùi xa mà nhìn, thì thấy đóng góp của những người này không thấm là bao so với sự phá hoại những nguyên tắc đạo đức, tức những tác hại lâu dài, mà họ mang lại.

2/ Ngoài số đại gia trên, hiện còn không ít người Việt, đang sống vất va vất vưởng theo kiểu ăn cắp vặt, buôn lậu, làm thuê làm mướn ở xứ người.

Nhớ hồi chống Mỹ trong đầu mọi người dân luôn được nung nấu cái ý nghĩ Ta chiến đấu thế này không phải chỉ vì ta. Ta đang chiến đấu cho cả thế giới. Ta đang trở thành lương tâm nhân loại… .

Kỳ cục thế mà ai cũng tưởng thật và ai cũng thích.

Được những tư tưởng kiểu đó quấn chặt vào đầu, nhiều người Việt sau 4-75 ra nước ngoài, tự cho phép mình làm tất cả những việc xấu xa nhất, bất chấp luật pháp nước sở tại và những nguyên tắc đạo đức thông thường. Một cuộc xuất khẩu thói lưu manh đã kéo dài chưa biết bao giờ chấm dứt.

11 – 6

Thăm các di tích lịch sử

Tham quan chùa Thanh Thủy. Ấn tượng nhất không phải là ngôi chùa, mà là cách dựng công trình tôn giáo này. Cách nó bám vào chân hòn núi đá. Cũng lại là một biểu tượng của tinh thần bám trụ của con người vào một thiên nhiên khắc nghiệt.

Buổi chiều tới ngôi Chùa Vàng. Đọc chữ Hán, thấy chính ra chùa này phải gọi là Kim Các tự mới đúng. Tôi thích cả không gian chung quanh chùa và cả cái cách người ta tạo ra ấn tượng đối với người tới tham quan.

Có một điều tôi thấy tin, là những chi tiết người ta trình bày về ngôi chùa, cái giá trị cổ kính của nó. Các di tích ở Việt Nam thường có những bảng giới thiệu rất luộm thuộm, nhiều lúc có cảm tưởng do những người không hiểu biết viết ra.

(Còn nhớ là lần vào Văn miếu năm 2010, khi đọc tiểu sử Khổng Tử, thấy viết là Đức Thánh Khổng “có đến bốn tác phẩm gọi là Tứ Thư”. Điều này sai vì bốn tác phẩm đó có tên là Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử. Sao lại nói cuốn Mạnh Tử do Khổng Tử viết được?)

Một niềm tin khác, khi đến thăm các công trình kiến trúc cổ, là cảm thấy chắc chắn nó giống như là ban đầu nó đã được hình thành. Trong một cuốn sách về văn hóa Nhật, tôi đọc thấy người ta nêu lên một nguyên tắc khi trùng tu các công trình lịch sử. Là bất cứ thời nào, muốn làm lại các công trình cũ thì cũng phải làm đúng như cái ban đầu, kể từ hình dáng, các chi tiết trình bày cho đến chất liệu kiến trúc.

Một cách tự nhiên, tôi có cảm tưởng, chúng ta có thể tin được nền sử học Nhật Bản, một niềm tin không thể có đối với nền sử học Việt Nam hiện nay.

Trong số các đoàn nội địa tới tham quan tại các công trình kiến trúc lịch sử, ở đâu tôi cũng gặp những đoàn học sinh do các giáo viên già dẫn đường và giới thiệu. Sau được nghe lại, thấy nói là trong chương trình học phổ thông, tất cả các học sinh có quyền được đi tham quan các di tích có ghi trong sử sách. Chi phí các chuyến đi ấy do nhà nước đài thọ và chỉ những người kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới được giao việc hướng dẫn các em.

Tình hình này khiến người ngoại quốc hiểu thêm một điều là tại sao không bao giờ các di tích, các thắng cảnh ở Nhật lại có tình trạng tràn ngập khách tham quan như bên Trung Quốc. Hình như những người lớn tuổi của nước Nhật đã tham quan di tích này từ lúc nhỏ rồi, nếu có tham quan chỉ đi lại thôi. Còn ở Trung Quốc, các di tích thường bị lấp đầy bởi người nông dân của các tỉnh xa xôi mà họ muốn đến với các thắng cảnh. Giống như cánh du lịch bụi Việt Nam chúng ta, lấy đi làm cái mốt, đi chỉ để chứng tỏ rằng mình chẳng kém gì người.

Trở lại với quá khứ của Nhật Bản, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi mối quan hệ của nước này với Trung Quốc. Một mặt thì cái ảnh hưởng ấy quá rõ và người Nhật không giấu điều này. Ai đó đã nói: “Người Nhật tìm ở Trung Hoa đức trầm tĩnh, vẻ hào hiệp và tính muôn màu muôn vẻ mà họ không thể có”. Mặt khác, suốt trong quá trình lịch sử, người ta cũng bắt gặp nỗ lực của người Nhật hướng theo cái tinh thần “trên cơ sở hoàn thiện mình, dám là mình, vui với mình và không ghen tức với người nước ngoài”. Đó lại là điều không thấy ở người Việt, văn hóa Việt.

Người Nhật làm du lịch

Những người tổ chức du lịch đã cố gắng cho chúng tôi biết được nước Nhật ở nhiều cung bậc khác nhau. Ví dụ về giao thông họ có bố trí cho chúng tôi ngoài chuyện thường xuyên ngồi trên ô tô, có lúc đi tàu thủy, có lúc đi tàu cao tốc.

Về ăn uống, ngoài những lối ăn nhanh theo kiểu buffet thì họ thường xuyên cũng cho chúng tôi vào những quán ăn tổ chức theo kiểu truyền thống. Ở đó, bọn tôi ngồi bệt xuống đất, chân đặt lên cái hố được khoét rộng chung cho cả bàn, trên bàn đặt nồi lẩu. Cái thú vị nhất đối với bọn tôi nói ra kể cũng phàm tục song cũng xin kể ra kể đây. Thú vị vì, nhìn vào cái nồi lẩu, thịt không bao giờ thiếu. Khi ăn hết, nếu cần chúng tôi có thể gọi thêm mà không phải trả thêm tiền.

Lúc đầu bọn tôi cũng lo lắng có những món ăn của Nhật không hợp khẩu vị, sau thì thấy cũng thích nghi dễ dàng.

Trong các chương trình như là thêm vào buổi chiều hôm nay, có việc chúng tôi đến thăm cửa hàng kimono. Ở đó, khách du lịch vừa có dịp tham quan cả cơ sở người ta đang dệt vải để làm ra kimono, và cũng có một buổi biểu diễn thời trang, trong đó những người Nhật trình bày cách sử dụng trang phục này.

Điều “rất Nhật” ở đây lại chính là cái bề ngoài “không chuyên nghiệp”, nó ngay lập tức gợi nên một thoáng thất vọng ở những người Việt thạo đời. Ra vào đi lại trên sân khấu lúc này không phải là những cô gái chuyên môn trình diễn thời trang, mà chỉ những người phụ nữ bình thường, tưởng như họ đang đi ngoài phố, vừa được mời vào.

Phụ nữ Nhật nói chung không đẹp, rất ít khi chúng tôi phải sững sờ cả người như khi sang Trung quốc, bắt gặp các cô gái còn chất quý phái hôm qua. Những cô gái Nhật biểu diễn thời trang ở xưởng làm và bán kimono cũng không thể gọi là đẹp. Họ trình diện trước du khách như những người thông minh, nghiêm túc, tự trọng, có sự cởi mở với người bên ngoài, mà vẫn giữ cho riêng mình đời sống nội tâm. Những bộ trang phục họ mang ra trình diễn hôm đó không phải là những hàng đắt tiền mà đám dân du lịch Việt Nam – những người đang thèm tiêu tiền — háo hức. Nhưng họ đâu có tính chuyện câu khách. Họ chỉ muốn giới thiệu một nét văn hóa Nhật.

Những dư âm của cuộc động đất

Tiếp tục câu chuyện về người Nhật trong sự so sánh với người Việt Nam. Sự kiện động đất xảy ra cách đây mấy năm vẫn còn trong kí ức người Nhật như chuyện mới xảy ra năm ngoái tháng trước hôm qua. Nhưng, chính lúc đó thì phẩm chất dân tộc của họ được bộc lộ.

Đức nói rằng ở đây đã lâu, song chính anh cũng rất ngạc nhiên vì cách phản ứng của người Nhật với động đất.

Ví dụ như, khi Tokyo mất điện, người ta đi bộ về nhà có khi đến hàng vài chục cây số, cái cửa hàng bên đường tung hàng ra để phục vụ người đi lại, mặc dù họ không có tiền. Khách sạn cho người đi đường vào ở nhà và không tính tiền.

Sau đó, tinh thần và nghị lực của người Nhật cũng bộc lộ ở việc sự nhất trí của xã hội trong việc khắc phục hậu quả tai họa. Sau động đất, nhà nước cắt điện một số vùng thì các vùng khác cũng tự động cắt theo giúp nhà nước có được lượng điện dự trữ. Khi đi làm việc, có lệnh chính phủ, công chức không dùng caravat để tránh giặt giũ nhiều, thì người thường cũng tuân theo .

Cả nước bao giờ cũng làm quá hơn so với mức chính phủ yêu cầu. Chỉ có câu khẩu hiệu nêu ra và viết trong các taxi: Nhật Bản hãy cố gắng. Mấy chữ ngắn ngủi thế thôi, mà người Nhật đã hiểu rất nhiều.

Trở lại với ý nghĩ mới hình thành trong tôi mấy ngày nay, hình như với người Việt Nam thì người Nhật ở dạng đảo ngược. Người mình sống trong sự cạnh tranh, phải lấy dối trá làm đầu khi quan hệ với nhau. Trong quan hệ với nhà nước và cộng đồng, càng trục lợi kiếm chác cho cá nhân càng tốt. Ở Nhật, giữa cá nhân và cộng đồng có niềm tin chắc chắn. Luôn luôn người ta tin rằng, những nỗ lực cá nhân của người ta sẽ được xã hội hiểu, những người tự trọng không thể làm khác.

12 – 6

Chuyện quanh những ngôi chùa

Ngày cuối cùng ở Nhật

Mấy hôm trước, chúng tôi đã đi qua những thành phố nổi tiếng của xứ sở này như Kyoto, nhưng dù thế cũng chỉ là lướt qua. Hôm nay cũng vậy, mang tiếng là được đến kinh đô cổ kính của nước Nhật là Nara, nhưng chúng tôi cũng chi được đi qua phố xá một quãng, sau đó được dẫn đến thăm ngôi chùa cổ đọc theo chữ Hán là Đông Đại Tự.

Trên đường phố Nara, bắt gặp những ngôi nhà cổ, loại nhà một tầng mà chắc chắn đã có từ rất lâu đời. Trong việc xử lí những di sản này, chỗ khác của người Nhật vẫn rất rõ. Họ có sự bố trí thế nào để những ngôi nhà cổ rộng rãi hòa hợp tự nhiên với những cao ốc hàng chục tầng bên cạnh,– việc này gợi cảm giác những người sống trong ngôi nhà cổ là những cư dân lâu đời ở đất này, có thể là họ còn giàu có nữa kia, thì mới được ở trong những ngôi nhà đó.

Còn ở Việt Nam bên cạnh những cao ốc thường khi cũng có những ngôi nhà rách nát, làm hỏng hết cảnh quan chung. Những cuộc đền bù bất minh, hoặc tâm lý thấy ai giàu có là ghen lồng ghen lộn, ì ra ăn vạ…đã là nguyên nhân làm cho cái cũ cái mới không thể chung sống hòa hợp.

Hai bên đường tới Nara, du khách cũng bắt gặp rất nhiều ngôi chùa. Đây là một địa điểm được mệnh danh kinh đô của Phật giáo, đã từng là địa điểm tổ chức Đại hội Phật giáo thế giới.

Nhưng một chuyện buồn lại bắt đầu len vào, khó mà quên được. Đức hướng dẫn viên chỉ hai bên đường và nói rằng ở đây có rất nhiều cửa hàng bán đồ dùng dành cho các nhà sư. Anh kể tiếp, nhiều nhà sư Việt Nam đa đến Nara này, và điều mà người Nhật bản xứ đã sửng sốt là những nhà sư đó đã mua những trang phục đắt tiền nhất toàn loại những nhà sư các nước khác không dám mua.

Đức có người bạn đã đi theo đoàn Phật giáo ấy, chứng kiến cảnh mua bán của các vị sư. Với thói quen của người Sài Gòn, người bạn ấy có hai phản ứng. Một là lập tức tính sẽ tổ chức những của hàng tương tự ở Việt Nam để bán cho giới tu hành hám chuyện làm dáng. Hai là nhiều lúc nghĩ không muốn thành Phật tử nữa bời vì không hiểu vì sao sư mô Việt Nam lại trần tục đến như vậy.

Một chút so sánh và cảm giác về một nước Nhật quá xa xôi

Khi đi trên đất Nhật tôi hay nhớ lại những lần đến các xứ khác.

Du lịch Trung Quốc, đối với tôi như là một chuyến trở về nguồn. Ở đó tôi nhớ không chỉ là những lâu đài tráng lệ hay những viên lâm cổ kính sang trọng – không khí như trong phim Hồng lâu mộng — mà tôi còn thấy ở đây có những mặt trái, tức cả đời sống cùng cực của người lao động bình thường.

Ở Bắc Kinh, tôi đã vào những ngõ nhỏ mà ở đó người ta , từng cụm dân trong hồ đồng, phải dùng hố xí tập thể, và con đường quanh co là những mái nhà lợp tôn, lợp ngói cổ cái thấp cái cao như những hẻm nhỏ Hà Nội. Tôi cũng thấy người ta buôn gian, bán lận, nói thách, làm hàng giả theo lối làm tiền chém du khách không tiếc tay.

Bởi Việt Nam luôn là Trung quốc bị hạ thấp hẳn xuống thu nhỏ hẳn lại cái tốt bớt dần cái xấu tăng thêm, nên tôi càng hiểu những tệ hại của xứ mình không biết bao giờ mới khắc phục được.

Ngay cả với nước Nga nửa Âu nửa Á, tôi cũng thấy điều gì đó tầm thường dung tục. Hồi còn Liên xô, đó là những đống đất xây dựng ngổn ngang ngay ngoài cửa cách hàng rào sân bay không xa; những phiên chợ nông trường lèo tèo; đám đầu trọc nghênh ngang ngoài đường. Và bây giờ ở nước Nga của Putin, cái tôi còn nhớ khi đọc các bản tin, là những làng xóm vắng vẻ, người đàn ông say rượu, những người đàn bà chỉ lo trau chuốt để bán mình cho các nhà tư sản mới nổi.

Tóm lại thì ở đâu cũng có cái gì đó gần gũi với mình.

Ngược lại, đến với nước Nhật, từ lâu tôi cũng biết là đồng văn đồng chủng, da vàng mũi tẹt, nhưng ấn tượng còn lại thì lại là một cái gì khác hẳn so với những ấn tượng đi Nga đi Trung Quốc.

Tôi thấy xã hội Nhật là một cái gì quá đồng đều và quá hoàn chỉnh, do đó là quá xa xôi, người mình không biết bao giờ mới có thể có một xã hội hợp lý như của họ.

Tình thế đó của nước Nhật toát ra không phải từ không khí sinh hoạt của đường phố mà nó thấm vào trong cách sống cách nghĩ của từng con người, cũng như lối sống rời rã, cái năng động hỗn loạn, và tâm lý bèo dạt mây trôi đã thấm vào trong cách tổ chức xã hội của người Việt.

Nhớ lại khoảng thời gian mấy năm 75-76. Quá say sưa vì chiến thắng, người mình có cảm tưởng rằng đã đánh Mĩ được thì làm gì cũng được. Tôi nhớ không phải ở người dân thường mà ở những cấp lãnh đạo cao nhất hồi ấy đã có ngưỡng vọng có ngày Việt Nam sẽ đuổi kịp Nhật. Công thức mà tôi còn nhớ như in là lời truyền miệng như thế này: “Thôi, nói 20 năm thì hơi lạc quan quá, độ 30 năm nữa thì chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật”.

Nhắc lại ảo tưởng đó để hiểu rằng, chiến tranh để đẩy chúng ta chui vào sừng trâu, và ra khỏi chiến tranh chúng ta đã xa lạ với thế giới như thế nào. Ta chẳng hiểu gì về người, mà cũng chẳng hiểu gì về chính mình.

Từ đó, trong cái thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, ta vẫn nhắm mắt mở, bước đi loạng choạng xiêu vẹo.

Trong sự vội vã điên cuồng lo làm ăn sinh sống, xã hội Việt sau chiến tranh đã trở thành một xã hội mất hết tự tin. Không ai bảo ai, không dám thú nhận, song trong thâm tâm, nhiều người chỉ còn tin rằng sẽ chẳng bao giờ chúng ta theo kịp thiên hạ. Cách sống thời thượng nhất lúc này là có cái gì bòn mót mang bán lấy tiền. Ăn cắp của nhà nước cũng được, lột da nhau cũng được, miễn có tiền. Rồi đi nước ngoài mua sắm những thứ xịn nhất, mới nhất, hiện đại nhất. Rồi lấy đó làm niềm tự hào rằng người mình cũng đang có sự tiến bộ vượt bậc theo kịp các nước trên thế giới.

Mấy năm gần đây, nhờ sự trợ giúp của phía đối tác nước ngoài, các trường đại học ở ta thường mở ra các cuộc hội thảo văn học so sánh, trong đó nhiều báo cáo của giảng viên Việt trình bày như là có một bước tiến song song giữa văn học Nhật Bản hiện đại và văn học VN thế kỷ XX, rồi bước tương đồng giữa văn học Nhật đương đại và văn học Việt Nam hôm nay. Trên một số phương diện khác của đời sống cũng vậy. Một cái gì giống như ảo tưởng đang chi phối cái nhìn người Việt khi chúng ta làm cái việc đối sánh giữa mình với người, và các đồng nghiệp Nhật vì lịch sự cũng không tiện bác bỏ. Thường những lúc nghe vậy, trong tôi có cái cảm giác xót xa như khi thấy người ta xoa đầu mình coi mình là một lũ trẻ con. Trong những ngày du lịch bụi ngắn ngủi này, cái cảm giác xót xa ấy lại trỗi dậy để mà càng cảm thấy nó một cách thấm thía hơn.

(Vương Trí Nhàn)

,

Leave a comment