[22.11.2015]

12243009_10206481576932619_1981970557902034138_n

 

Một con người tuyệt vọng, bán đi những hy vọng để mưu sinh ….

Gương mặt ấy, sao mà giống Bùi Giáng đến vậy!

Advertisements

Leave a comment

[10.11.2015]

hoa-co-may2

Về quê!

Đi thăm mộ, thắp nhang.

Hoa cỏ may vương đầy nơi vạt áo ….

©

,

Leave a comment

Wabi-Sabi là gì?

Wabi Sabi cho hoạ sĩ, nhà thiết kế, thi sĩ và triết gia

Tác giả: Leonar Koren

Người dịch: depvabuon.blogspot.com

Lời giới thiệu 

Wabi Sabi là vẻ đẹp của những thứ bất toàn, vô thường và chưa trọn vẹn.

Là vẻ đẹp của những thứ khiêm tốn và nhún nhường.

Là vẻ đẹp của những thứ bất thường.

Vẻ đẹp đang bị lụi tàn. Chất xúc tác mạnh mẽ nhất cho cuốn sách này là sự phổ biến rộng rãi của trà đạo Nhật Bản. Thẩm mỹ Wabi Sabi đã có một thời gian dài hình thành và phát triển cùng trà đạo và đây cũng là một sự hứa hẹn cho một kinh nghiệm Wabi Sabi sâu sắc.

Hiroshi Teshigahara, vị Iemoto truyền thừa, nghệ nhân của trường dạy hoa đạo Sogetsu, đã ủy nhiệm cho ba kiến trúc sư nổi tiếng và thời thượng nhất Nhật Bản  thiết kế và xây dựng cho họ một không gian dể tổ chức các buổi trà đạo. chính Teshigahara cũng đóng góp một phần tư ý tưởng(1). Sau ba giờ bắt xe lửa và xe bus từ văn phòng của tôi tới đây, nơi mà trước kia là nền móng cũ khu nghỉ dưỡng mùa hè của hoàng tộc. Cái làm tôi thấy thất vọng là tôi chứng kiến một thứ tôn vinh sự tráng lệ , hùng vĩ và quyền lực, hầu như không có dấu vết nào của Wabi Sabi. Một căn trà thất mô phỏng túp lều trông mượt mà có vẻ như làm từ giấy lại như một chiếc ô lớn bằng nhựa trắng. Liền kề đó  là một kết cấu bằng kính, thép và gỗ trông có vẻ khá gần gũi với những tòa cao ốc văn phòng. Căn trà Wabi Sabi mà tôi kỳ vọng khi nhìn nhìn kỹ lại  xuất hiện thêm những chi tiết hậu hiện đại được thêm vào một cách vu vơ không đâu. Tôi chợt nhận ra rằng một lúc nào đó, Wabi Sabi –  thứ thẩm mỹ vượt trội – linh hồn của trà đạo đã trở nên một thứ gây nguy hiểm(2).

Phải thừa nhận là, vẻ đẹp Wabi Sabi không phải là “gu” chung của mọi người. Nhưng tôi tin tất thảy mọi người đều không muốn vẻ đẹp này bị mất đi. Sự đa dạng văn hóa là một niềm mong mỏi khi mà  khi mà xu hướng mọi thứ kinh nghiệm cảm xúc đều được đồng bộ hóa, nơi mà một “độc giả” điện tử đứng giữa  kinh nghiệm và sự quan sát, và tất cả những hiển thị đều được số hóa như nhau.

Ở Nhật  không giống như châu Âu và một phần nhỏ hơn ở Châu Mỹ, những chất liệu văn hóa bé nhỏ nhưng quý giá vẫn được giữ gìn. Vì vậy ở Nhật, bảo tồn một vẻ đẹp vũ trụ khỏi bị hoại diệt có nghĩa là, trong những ngày tháng muộn màng này, không đơn thuần chỉ là vật thể hay những đền đài mà là cả một hệ thống tư tưởng  thẩm mỹ mong manh còn sót lại trong bất kỳ một dạng tồn tại nào. Bởi lẽ Wabi Sabi không dễ dàng gì để đúc rút thành một dạng hình hay một lối diễn đạt rõ ràng được nên việc bảo tồn nó càng trở nên một công việc thật sự dễ làm ta nản lòng.

Vẻ đẹp duy tâm. Giống như nhiều người cùng thời với tôi, trước tiên tôi đã học hỏi về Wabi Sabi trong suốt những năm tháng tuổi trẻ với tinh thần hăng say của những năm cuối thập kỉ 60. Vào thời đó, minh triết văn hóa truyền thống Nhật Bản hứa hẹn một câu trả lời sâu sắc cho những câu hỏi dai dẳng của cuộc sống. Wabi Sabi với tôi như một kiểu mẫu thẩm mỹ nền tảng giúp phục hồi lại những thước đo đúng đắn về sự sáng suốt và cân bằng trong cuộc sống. Wabi Sabi giải quyết  được những phân vân nghệ thuật của tôi về việc làm sao có thể tạo nên những thứ đẹp đẽ mà không bị vướng bận vật chất như đầy rẫy những thứ “nghệ thuật” quanh mình bấy giờ. Wabi Sabi- sâu thẳm, đa chiều và khó nắm bắt – xuất hiện như thứ thuốc giải cho xã hội Mỹ khỏi bị tê liệt trong sự mượt mà, ngọt ngào quện lẫn trong vẻ đẹp. Tôi bắt đầu tin Wabi Sabi liên quan tới thứ thẩm mỹ ngày càng nhấn mạnh vào sự đi ngược lại những trào lưu của tuổi trẻ, hiện đại như nhạc punk, grunge(một thể laoij nhạc rock) hay những bất kì thứ  nào được gọi là cái mới

Trà thư. Lần đầu tôi đọc về Wabi Sabi trong cuốn trà thư của Kazuko Okakura, được xuất bản 1906. Mặc dù Okakura đã chạm tới khá nhiều mặt của Wabi Sabi, ông tránh dùng cụm từ” Wabi Sabi”. Có lẽ ông không muốn làm rối trí độc giả của mình bởi những từ nước ngoài mà không hoàn toàn cần thiết cho những ý tưởng thảo luận về thẩm mỹ của mình. (cuốn sách viết bằng tiêng Anh cho những độc giả không biết tiếng Nhật). Có lẽ ông cũng tránh đề cập tới phạm trù này vì vốn đã đầy gai góc cho ngay cả giới trí thức Nhật Bản.

Sau gần một thế kỷ cuốn sách ra đời, phạm trù Wabi Sabi cũng chỉ xuất hiện một cách qua loa trong sách vở và tạp chí  bàn về trà đạo hay những bí mật nhà nghề của Nhật Bản. Thi thoảng, đôi ba câu cũng nhắc đến trong những miêu tả về Wabi Sabi (thường là những câu mở dầu trong phần giới thiệu) cũng theo cách hời hợt như vậy. Và cụm từ này còn được dùng như một cách nói nhạo báng của những nhà phê bình trong và ngoài nước nhắm tới những thử nghiệm nghệ thuật khó hiểu của những người hâm mộ văn hóa truyền thống Nhật Bản.

Có lẽ giờ đây là thời điểm hứa hẹn văn hóa có thể vượt ra ngoài những định nghĩa đóng khung, có thể ngụp lặn sâu hơn một chút trong chiều sâu âm u. Trong  tinh thần này tôi đã tìm ra vài mảnh ghép của Wabi Sabi – mờ xỉn, vỡ vụn, hư nát trong khi có thể được phục hồi – và nỗ lực ghép chúng lại với nhau để tạo nên một cái gì đó có nghĩa. Tôi đã đi được một quãng đường xa bằng những nhà thẩm định giá trị Wabi Sabi, những sử gia, nhà văn hóa đi được – và sau đó đã bước xa thêm một chút. Cố gắng hiểu bản chất ẩn sâu bên dưới, kết nối tư tưởng với hành động, tôi cố gắng nắm bắt tất cả, chính thể luận của Wabi Sabi và làm cho nó mang một ý nghĩa nhất định(3). Kết quả là trong tập sách mỏng này, chỉ như một sự ướm thử, là bước đầu cá nhân tôi trên con đường “gìn giữ” những giá trị mà xưa kia đã từng là một thứ thẩm mỹ được thấu hiểu và nhận biết rõ ràng.

Lịch sử một định nghĩa cố tình bị lảng tránh

Khi được hỏi Wabi Sabi  là gì, hầu hết người Nhật đều lắc đầu e ngại và đưa ra lời xin lỗi cho việc khó có  thể giải thích một cách rõ ràng. Mặc dù họ đều cho rằng mình có thể hiểu được ý nghĩa của nó bởi nói cho cùng thì đó là một trong những giá trị cốt lõi của văn hóa Nhật Bản, song rất ít người có thể nói một cách rõ ràng về thứ cảm giác này.

Tại sao vậy? Bởi vì, như một số người theo chủ nghĩa Sô-vanh cho rằng, cần thiết phải có thứ tố chất bản địa? Gần như vậy. Bởi vì tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ  thích hợp cho việc truyền tải những thông điệp mang nhiều tính cảm xúc, mơ hồ, thứ logic của con tim chứ không thích hợp cho kiểu lý tính rõ ràng. Một phần nào đó có thể đúng, nhưng lý do chính mà người Nhật không được hoc về khái niệm Wabi Sabi  một cách chính thống có lẽ là do không có một quyển sách hay vị thầy nào dạy về vấn đề này.

Điều này không phải là ngẫu nhiên, trong suốt lịch sử thì một cách hiểu lý tính về Wabi Sabi  đã ngầm bị loại bỏ từ trước.

Thiền tông. Gần như từ khi ra đời như một giá trị thẩm mỹ khác biệt, Wabi Sabi đã có  cùng vùng ngoại biên với thiền tông. Thậm chí nhiều khi Wabi Sabi còn được gọi là “Zen of things”, như một minh họa cho rất nhiều giáo lý minh triết của nhà Thiền(4). Người Nhật đầu tiên có liên hệ tới Wabi-Sabi là một vị trà sư, một nhà tu hành, một vị thiền sư đã hành thiền và đã đạt tới đại ngộ. Một trong những tư tưởng lớn của Thiền tông là loại bỏ sự huyên náo. Hiểu biết chân thật trong nhà Thiền, chỉ có thể chuyển giao trong tâm thức, không thể viết hay nói ra. “Người biết không nói, người nói thì không biết”. Ở cấp độ mới bắt đầu, những lời giáo huấn này được nhắc nhở luôn để tránh sự hiểu sai về phạm trù vốn rất dễ bị nhầm lẫn này. Vậy nên, một định nghĩa rõ ràng  nhằm giải thích khái niệm Wabi-Sabi  là một thứ đã bị cố tình tránh né.

Hệ thống Iemoto. Từ thế kỉ 18, việc tổ chức và trao truyền những tinh hoa văn hóa nghệ thuật Nhật Bản như trà đạo, hoa đạo, thư pháp, ca vũ kịch  là công việc của một nhóm người tinh yếu trong gia tộc. Thành viên đứng đầu gia tộc trong mỗi nhóm này được gọi là Iemoto(5). Việc đặt tên loại hình, tạo tác hay chọn loại hình nghệ thuật để theo đuổi được quyết định hoàn toàn bởi các Iemoto. Cũng như trong Thiền tông, tinh yếu nhất định chỉ trao truyền cho một số người được chọn lựa. Wabi Sabi, một phần trọng yếu trong kho tài sản trí tuệ của Iemoto ( đặc biệt trong lĩnh vực trà đạo) là thứ không thể trao đi – trừ phi đó là một cuộc chuyển giao có giá trị tiền bạc hoặc vì lòng yêu thích. Những khái niệm mơ hồ và lạ lùng kiểu Wabi Sabi  cũng nhiều khi cũng được vận dụng khôn khéo để tạo nên một thương vụ kiếm lời. Sự mơ hồ về ý nghĩa lại dường như trêu ngươi những khách hàng mù mờ về giá trị thực của Wabi Sabi, đó chính là mối làm ăn cho những Iemoto giả hiệu.

Thứ thẩm mỹ mơ hồ. Ý nghĩa hiển minh của Wabi Sabi được bao bọc trong sự huyền bí vì những lý do mang tính thẩm mỹ. Vài nhà phê bình Nhật Bản cảm thấy rằng Wabi Sabi cần duy trì trong đặc tính khó hiểu, mơ hồ và khó định nghĩa bởi sự khó có thể nắm bắt lại chính là một phần trong tính đặc sắc của nó. Wabi Sabi , họ tin rằng, là một điểm cùng đích, chứa một cái kết trong chính mình, không bao giờ được nhận diện một cách hoàn toàn. Từ ưu thế này, sự không thể định nghĩa hay nắm bắt lại đơn giản  là một mặt không hoàn hảo sẵn có của Wabi Sabi. Bởi tính logic, sáng sủa rõ ràng không phải là tính chất của Wabi Sabi nên việc cố công giả thích hay định nghĩa lại chính là làm cho ý nghĩa của nó hạn hẹp đi.

Có thể những nhà phê bình đúng. Trong địa hạt thẩm mỹ, những lý do luôn lệ thuộc vào nhận thức và cảm giác. Trong truyền thống, những nghệ nhân làm kiếm và người thẩm định thường nói về thứ năng lượng tâm linh tiềm ẩn trong mỗi thanh kiếm, đó là thứ thần bí nhất. Ngày nay, những người trẻ tuổi được học hành và thực nghiệm đầy đủ về mọi yếu tố như nhiệt độ chính xác của lò nung, tỉ lệ thành phần kim loại và cả thời điểm khi mà thanh kiếm đạt được “tính” cần thiết – độ linh hoạt, độ cứng, tính dẻo dai…hay chính linh hồn của thanh kiếm được thực sự hình thành. Có lẽ những cách thức mới có phần bộc trực này làm giảm đi sự lãng mạn của cái gì đó còn trong tưởng tượng. Nhưng nếu có thể góp phần bảo tồn một giá trị thẩm mỹ độc đáo, một vài cột chỉ đường thiết nghĩ cũng nên cần dựng lên cho thế hệ mai sau.

Một định nghĩa tạm thời

Wabi Sabi là nét đặc thù và rõ ràng nhất khi ta nghĩ tới vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản. Nó chiếm một vị trí vô cùng to lớn, tựa như một “đền Phatheon của Nhật Bản ” về những giá trị thẩm mỹ, cũng giống như những lý tưởng của Hy Lạp về vẻ đep và sự hoàn hảo  ở phương Tây(6). Wabi Sabi, chính nó đã chứa một sự diễn tả đầy đủ nhất về một lối sống. Hay ít nhất, đó cũng là một vẻ đẹp độc đáo.

Trong tiếng Anh, từ vựng có nghĩa gần nhất Wabi Sabi có lẽ là “rusty”. Theo định nghĩa của Webster, “rusty” có nghĩa là sự đơn giản, không màu mè, mộc mạc…(với) bề mặt thô nhám, không trơn nhẵn. Mặc dù “rusty”chỉ diễn tả được một chiều kích giới hạn của khái niệm thẩm mỹ Wabi Sabi, nó vẫn là ấn tượng ban đầu của rất nhiều người khi bắt gặp những thứ Wabi Sabi . Wabi Sabi mang một vài đặc điểm gần giống với cái mà ta gọi là “nghệ thuật nguyên thủy”. Đối tượng sáng tạo là đất, đó là thứ nguyên liệu mộc mạc, gần gũi nhất mà có lẽ cũng ra đời sớm nhất trong tự nhiên. Nhưng khác với “nghệ thuật nguyên thủy”,  Wabi Sabi  không dùng những dạng tượng trưng hay biểu tượng.

Ban đầu, hai từ”wabi” và “sabi” có nghĩa hoàn toàn khác nhau. “Sabi” nguyên nghĩa là lạnh lẽo, hoang tàn. Còn “Wabi” nguyên nghĩa là sự cô tịch, trạnh thái buồn bã, yếm thế. Khoảng thế kỉ XIV, nghĩa của hai từ này mới bắt đầu đi theo chiều hướng của những giá trị thẩm mỹ tích cực hơn. Lựa chọn  cuộc sống ẩn dật và thanh đạm của những nhà tu hành theo lối khổ hạnh được cho là càng có nhiều cơ hội cho sự phát triển phong phú về mặt tinh thần. Khuynh hướng, cách sống nên thơ này mang trong mình một thái độ sống trân trọng mọi thứ, ngay cả những chi tiết nhỏ bé vụn vặt thường ngày, khả năng nhìn ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong, những bình diện của thiên nhiên thường không mấy ai nhìn ra. Đến lượt những thứ nhỏ bé tầm thường lại mang một ý nghĩa mới mẻ như là nền tảng của cái mới, cái đẹp thuần khiết.

Qua hàng thế kỉ, ý nghĩa của “wabi” và “sabi” ngày nay đã có nhiều thay đổi và ranh giới giữa chúng thật sự đã bị xóa nhòa. Khi một người Nhật nói “wabi” thì cũng có thể họ đang nói về “sabi” và ngược lại. Thường thì họ đơn giản gọi chung là “Wabi Sabi”,  đó cũng là một quy ước ngầm trong cuốn sách này. Nhưng nếu chúng ta coi  “wabi” và “sabi” như những phần tử riêng biệt thì có thể phân loại chúng như sau:

WABI

SABI

·         Một cách sống, một con đường tâm linh

·         Hướng nội, chủ thể

·         Một cấu trúc có tính triết học

·         Thứ thuộc không gian

·         Chất liệu, nghệ thuật, văn học

·         Hướng ngoại, khách thể

·         Một lý tưởng thẩm mỹ

·         Thứ thuộc thời gian

Một phép so sánh với chủ nghĩa hiện đại

Để có một mường  tượng rõ ràng hơn về Wabi Sabi là cái gì và không là cái gì – có lẽ tốt hơn là ta nên đặt nó trong phép so sánh và tương quan với chủ nghĩa hiện đại, khuynh hướng thẩm mỹ chiếm ưu thế của xã hội mang tính toàn cầu hóa của nửa sau thế kỉ XX. “Chủ nghĩa hiện đại” lại là một phạm trù khác vốn khó nắm bắt đã để lại một vết cắt lớn trong lịch sử nghệ thuật sáng tạo, trong hành xử và triết học. Ở đây chúng ta đang nhắc tới “chủ nghĩa hiện đại” chính thống, cái  mà hiện thân của nó là hầu hết tác phẩm được trưng bày trong những bộ sưu tập của bảo tàng nghệ thuật hiên đại ở NewYork. Nghệ thuật hiện đại chính thống bao gồm hầu hết là những trang thiết bị đường nét sắc sảo đi theo trường phái tối giản, máy móc, ô tô và cả những đồ dùng được sản xuất từ thế chiến thứ II. Nó còn bao gồm cả bê tông, sắt thép, những tòa cao ốc được bao bọc kính bên ngoài như  kiểu kiến trúc của chính cái bảo tàng này.

Giống nhau:

  • Cả hai đều được áp dụng trong những đối tượng, không gian và thiết kế của con người.
  • Chúng đều có động thái mạnh mẽ đi ngược lại những trào lưu chiếm ưu thế thời đó, chủ nghĩa hiện đại là một sự chuyển hướng căn bản từ chiết trung cổ điển từ thế kỉ XIX. Wabi Sabi là sự chuyển hướng căn bản từ kiểu cách cầu toàn, tráng lệ của Trung Hoa cổ điển thế kỉ XVI và trước đó.
  • Đều tránh bất cứ một thứ trang trí nào trọn vẹn, hoàn hảo về mặt kết cấu.
  • Chúng đều trừu tượng, không mang tính đại diện cho cái đẹp lý tưởng
  • Đều mang trong mình những đặc trưng dễ dàng  nhận biết. Chủ nghĩa hiện đại  không tì vết, bóng bẩy, mượt mà. Wabi Sabi mộc mạc, bất toàn và bất thường.

Khác nhau(7):

CHỦ NGHĨA HĐ

WABI SABI

·         Phạm vi cộng đồng

·         Gợi ra một thế giới quan có tính logic

·         Hoàn toàn

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính toàn cầu, nguyên mẫu

·         Sản xuất hàng loạt

·         Hướng tới tương lai

·         Tin tưởng vào sự chi phối của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa công nghệ

·         Con người thích ứng với máy móc

·         Dạng hình học(sắc nhọn, chính xác, vuông thành sắc cạnh)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái hộp( được bao kín bởi những đường thẳng chính xác)

·         Vật liệu nhân tạo

·         Có vẻ ngoài trơn nuột

·         Cần bảo quản tốt

·         Độ tinh khiết,không pha tạp càng làm giàu sức biểu hiện hơn

·         Làm suy giảm thông tin có được từ mặt giác quan

·         Không khoan nhượng với sự mơ hồ,mâu thuẫn

·         Lạnh

·         Thường sáng sủa tươi mới

·         Chức năng và tiện ích là những giá trị cơ bản

·         Vật liệu hoàn hảo là một lý thưởng

·         Trường tồn

·         Phạm vi cá nhân

·         Gợi ra một thế giới quan mang tính trực giác

·         Tương đối

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính cá nhân, phong vị riêng

·         Không trùng lặp nhau

·         Hướng tới hiện tại

·         Tin vào những cái bất khả tri thuộc về bản chất của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa tự nhiên

·         Con người thích ứng với tự nhiên

·         Dạng hữu cơ( hình, viền mềm mại và không rõ ràng)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái bát( hình dáng tự do, mở ở phía trên)

·         Vật liệu từ thiên nhiên

·         Có vẻ ngoài thô nhám xù xì

·         Hợp với vẻ tàn phai, hư hoại do thời gian

·         Sự hao mòn, phai tàn càng nói lên được nhiều thứ hơn

·         Làm gợi mở hơn thông tin có tính giác quan

·         Hài lòng với sự mơ hồ và mâu thuẫn

·         Ấm

·         Thường tối và mờ xỉn

·         Chức năng và tiện ích không quá quan trọng

·         Sự phi vật chất hoàn hảo là một lý tưởng

·         Mọi thứ đều ngắn hạn

Lịch sử ra đời

Trước thời Rikyu. Lý tưởng đầu tiên truyền cảm hứng cho tính siêu hình, tinh thần và chuẩn mực đạo đức của Wabi Sabi là sự đơn giản, tự nhiên, chấp nhận thực tại được tìm thấy trong đạo Lão và thiền tông Trung Hoa. Trạng thái Wabi Sabi của tâm thức và ý thức về chất liệu đều được chuyển hóa từ bầu không khí sầu muộn, ảm đạm và bút pháp tiết chế tối đa của thơ ca và hội họa (tranh thủy mặc) Trung Hoa ở thế kỉ IX và thế kỉ X. Vào cuối thế kỉ XVI, những thành tố riêng rẽ này đã được hợp nhất lại thành một chất liệu rất “Nhật Bản”. Mặc dù Wabi Sabi nhanh chóng thẩm thấu vào hầu hết các mặt của trào lưu văn hóa và phong vị của Nhật Bản, nhưng nó chỉ đạt tới đỉnh cao trong khuôn khổ của trà đạo.

Có nhiều tên gọi khác nhau như Sado, Chado và Chanoyu, trà đạo đã trở thành một bộ môn nghệ thuật xã hội kết tinh có tính chắt lọc giữa những môn nghệ thuật khác như kiến trúc, nội thất, ngoại thất sân vườn, cắm hoa, hội họa, ẩm thực và trình diễn. Sự thành công của người thực hành bộ môn này là làm sao cho có thể sắp xếp hài hòa những hình thức thức nghệ thuật trên và khách tham gia trong một không gian thú vị mà tĩnh lặng và thường có một chủ đề xuyên suốt bên trong(8). Đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật, đạt tới nhận thức vũ trụ trong ý niệm Wabi Sabi một cách đầy đủ nhất chính là mục đích bên trong của trà đạo.

Vị thầy đầu tiên được ghi nhận là Muratashuko, một vị thiền sư đến từ Nara. Thời đó trong xã hội thế tục thì trà đạo được coi là một thú vui tao nhã được ưa chuộng trong một bộ phận không nhỏ. Bởi vì, tiếng tăm và sự giàu có dường như gắn liền với việc sở hữu những món đồ pha trà quý hiếm, tinh xảo ngoại lai(9). Shuko, đi ngược lại với trào lưu này, cố ý sử dụng những đồ bản địa ở bất kì đâu, đó chính là khởi nguyên của thẩm mỹ Wabi Sabi trong  trà đạo.

Thời Rikyu. Một trăm năm sau sự ra đời những đột phá của Shuko, Wabi Sabi đã được “thần thánh hóa” nhờ Sen no Rykuy (1522-1591). Là con của một thương gia, Rikyu đã bắt đầu yêu thích trà đạo từ năm 17 tuổi(10). Đầu tiên Rikyu được biết tới như một nghệ nhân pha trà cho vị  thống soái Oda Nobungana hùng mạnh. Sau khi Oda Nobungana bị ám sát vào năm 1582, Rikyu chuyển sang phụ vụ cho người kế thừa của ông ta, một kẻ tài giỏi và lập dị là Toyotomi Hideyoshi. Rikyu, với 9 nghệ nhân pha trà khác, đã giúp Hideroshi thu nhận và đánh giá đúng những trà cụ qua việc thấu hiểu những nghi thức phức tạp và dụng cụ được sử dụng trong một nghi lễ trà đạo. mặc dù cuối thế kỉ XVI chiến tranh liên miên nhưng vẫn tồn tại một thời hoàng kim của sáng tạo trong nghệ thuật. Trong trà đạo thì đã có những thử nghiệm đáng kể với một cơ số dụng cụ, không gian kiến trúc và các kiểu lễ nghi. Giữa những luồng văn hóa vũ bão thì Rikuy vẫn tin tưởng vào chiến thắng của những lý tưởng thẩm mỹ có giá trị lâu dài : công khai đặt những thứ có vẻ thô mộc như đồ thủ công truyền thống của Hàn Quốc và Nhật Bản – những thứ có thể gọi là Wabi-Sabi ngang tầm, thậm chí còn cao hơn một bậc những món đồ xa xỉ, hoa mĩ, toàn bích của Trung Hoa(11). Rikyu cũng sáng tạo nên một kiểu trà thất dựa trên nguyên mẫu là túp lều của người nông dân với mái lợp rạ, tường đất xù xì và những cột kèo méo mó. Sau đó Rikyu còn giản lược trà thất chỉ còn một diện tích đáng kinh ngạc bằng 2 tấm tatami, khoảng chừng 39 feet vuông. (12)

Thật không may, những giá trị quay về nguyên bản, về sự mộc mạc tự nhiên mà Rikyu khởi xướng lại không được hoan nghênh và đánh giá cao ở thời đó. Hideroshi, một người vốn xuất thân từ nông dân đã nghi ngờ khiếu thẩm mỹ của Rikyu về những thứ mà thường bị cho là xấu xí. Liệu Rikyu có nhẫn tâm may cho hoàng đế “một bộ quần áo mới”? Trong lý tưởng thẩm mỹ của Hideroshi, cái đẹp là phải phô diễn được sự xa hoa khôn xiết: một trà thất được dát bằng vàng. Thẩm mỹ của Rikyu đứng trước nguy cơ làm rạn nứt mối qua hệ giữa họ, trong khi vốn Hideroshi đã sẵn ghen tị với việc Rikyu ngày càng được hoan nghênh. Sự bất cẩn về chính trị của Rikyu cộng với lợi lộc từ những Trà cụ  đã đần đẩy Hideroshi tới hành động ép Rikyu phải tự sát vào tuổi 70.

Sau Rikyu. Mối băn khoăn hoài nghi của những trà hội viên  từ sau cái chết của Rikyu, đã tìm được lời giải từ những lời truyền dạy chân thật của ông (không giống như những lời răn của Chúa hay đấng Mohammed đòi hỏi ở họ một sự vâng lời và thông suốt)(13). Trong giai đoạn này, những phán xét hay tưởng tượng mang tính cá nhân đã bị vắt kiệt khỏi trà đạo. Thậm chí hầu hết những cử chỉ động tác nhỏ nhất  của tay có tính nghi lễ khá cứng nhắc được duy trì và hầu như không thay đổi từ thời Rikyu ( lý do ở đây là Rikyu đã đạt tới một phương cách hoàn hảo nhất để sử dụng trà cụ với sự hạn chế tối đa những động tác thừa thãi làm hao tổn năng lượng) .

Khoảng 100 năm sau cái chết của Rikyu, “nghệ thuật” trà lại tìm được cái “đạo”của nó (chado), có vẻ như đó là một thứ tôn giáo hay phép rèn luyện tinh thần. Trong suốt quá trình bị biến đổi, Wabi Sabi, cốt lõi của trà đạo đã bị thu gọn lại, đơn giản hóa và gói gọn trong những lời dạy, những luật lệ bất di bất dịch. Wabi Sabi dường như đang trượt dần trên con đường tới cái điểm đối nghịch của nó: sự mượt mà, bóng bảy, sáng rõ.

Trên một mặt khác, các tổ chức- trường học phi lợi nhuận dạy về trà đạo có thể gọi là những bảo tàng sống kế thừa lịch sử giúp duy trì và bảo tồn một cách nguyên bản những nghi thức truyền thống. (Sự tập duyệt, sau tất cả, là cốt lõi của truyền thống). Cũng có thể nói rằng nếu không có những tổ chức này, Wabi Sabi – phần còn sót lại sẽ bị tàn lụi có lẽ còn nhanh hơn cả sự Âu hóa điên cuồng trên khuôn mặt Nhật Bản. Ngoài ra, việc thực hành nghi lễ còn có giá trị như một bài tập thiền. Những động tác “vô trí” lặp đi lặp lại có vẻ máy móc và cho phép ta đơn giản là tập trung  vào cái “đang là” mà không bị phân tâm bởi việc quyết định, thể hiện kĩ xảo hay những cái khác.(14)

Tuy nhiên, Wabi Sabi đã không còn là tư tưởng hay tinh thần chính yếu của trà đạo nữa, mặc dù có vài thứ nghe có vẻ Wabi Sabi, nhìn trông có dáng dấp Wabi Sabi, tên gọi và kiểu cách đúng như vậy – nhưng vẫn trật lất! Thay vào đó, Wabi Sabi  đã bị thay thế bởi những trường, hội  trà đạo hướng vào “hòa bình thế giới” hay “giao tiếp sâu thẳm giữa con người”(15). Như một phản ứng nhằm trì hoãn lâu dài với việc vắng bóng của Wabi Sabi thực sự, một số thành viên cấp tiến của các hội chính thống đã tìm đến nghệ thuật đương đại để mong tìm được sự kết nối tạm thời với Wabi Sabi(16). Nền tảng khôn ngoan của thứ Wabi Sabi mới này là  hệ thống lại của Rikyu về một câu châm ngôn trong nhà thiền, đại loại là “lần đầu cũng có thể là lần cuối”, hàm ý ta phải tập trung hoàn toàn vào những thứ xảy ra ở đây lúc này. Liệu chủ trương đạo đức – tâm linh cận biên này có chứng tỏ được kết quả trực quan của nó trong việc đưa trà đạo đến một hướng sát với Wabi Sabi  hơn?(17)

Vũ trụ  quan Wabi Sabi

Lý thuyết cơ bản

Mọi thứ đang trong quá trình hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô.

Giá trị về mặt tinh thần

Chân lý đến từ sự quan sát thiên nhiên vạn vật.

Sự “vĩ đại” nằm ẩn sâu trong những thứ nhỏ bé bình dị.

Vẻ đẹp có thể tìm thấy ở những thứ tưởng chừng xấu xí.

Trạng thái tâm thức

Chấp nhận thực tại

Trân trọng trật tự vũ trụ

Châm ngôn đạo đức

Cho đi những thứ không cần thiết

Hướng vào bản chất bên trong, coi nhẹ những thứ bậc vật chất

Đặc tính Chất liệu

Mang ý niệm quá trình thời gian

Bất thường

Khiêm nhường

Mộc mạc

Tối

Giản đơn

Wabi Sabi có thể được gọi là một hệ thống thẩm mỹ phức hợp nhiều khái niệm. Thế giới hay vũ trụ quan cũng là phản chiếu chính bản thân. Nó cho ta thấy tính vạn vật đồng nhất thể là đặc tính chung của mỗi thực thể (siêu hình), cái toàn tri (tinh thần), cảm giác hạnh phúc (trạng thái tâm thức), cách hành xử (đạo đức), cách nhìn và cảm nhận mọi thứ (vật chất). Càng hệ thống hóa và làm rõ ràng từng khái niệm riêng lẻ hợp thành bao nhiêu, ta càng nắm rõ về khái niệm chung bấy nhiêu, càng có nhiều cách thức chỉ dẫn về cội nguồn ­– càng có nhiều ích lợi đem lại.

Lý thuyết cơ bản của Wabi Sabi

Vũ trụ như thế nào?

Mọi thứ đều đang hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô. Khi bóng tối bắt đầu bao phủ lên vùng đất hẻo lánh, một lữ khách đang băn khoăn cho chỗ nghỉ đêm nay. Anh bắt đầu để ý có rất nhiều thân cỏ sậy cao mọc khắp nơi, anh vòng tay ôm lại một ôm lớn, vẫn giữ chúng đứng trên mặt đất như ban đầu và thắt nút lại phía trên. Úm ba la, một túp-lều-cỏ-sống hiện ra. Sáng hôm sau, trước khi khởi hành cho một chuyến viễn du mới, anh tháo nút thắt và úm ba la, chiếc lều cỏ biến mất, mọi thứ trở lại như không có gì xảy ra. Sự hoang vu nguyên thủy quay trở lại, nhưng một vài chi tiết nhỏ nhặt của nơi trú ẩn vẫn còn sót lại. Một vài vết xoắn nhẹ vẫn còn ở đây hay ở kia, ký ức về chiếc lều cỏ vẫn còn trong tâm trí người lữ khách cũng như những độc giả đang đọc những dòng này. Wabi Sabi, trong hình thức thuần khiết và lý tưởng nhất là những dấu vết mong manh và hư ảo như vậy, đó là biên dạng của những thứ hư vô.(19)

Trong khi vũ trụ đang hư hoại thì cũng là nó đang hình thành. Nhiều thứ mới mẻ xuất hiện từ cái hư vô. Nhưng chúng ta không thật sự nhận ra nó bằng óc quan sát vội vã khi chúng đang hình thành hay tới hồi chuyển giao. Nếu ta không thấy sự khác biệt thì rất có thể ta sẽ nhầm lẫn một đứa bé mới sinh – bé nhỏ, nhăn nhúm, cong queo, trông hơi kì cục– với một ông già gần miệng hố. Trong hình dung về Wabi Sabi, có lẽ có đôi chút tùy tiện, mọi vật tới hồi  chuyển giao thường có xu hướng xuất hiện dưới dạng hơi tối tăm, mờ mịt và lặng lẽ. Những thứ đang hình thành có xu hướng sáng sủa hơn đôi chút, rõ ràng hơn và cũng bắt mắt hơn. Hư vô – không theo cách hiểu của phương Tây như một không gian trống rỗng hoàn toàn, mà nó ẩn chứa sự sống tiềm tàng. Trong khái niệm trừu tượng, Wabi Sabi gợi lên hình ảnh một vũ trụ không ngừng vận động.

Giá trị tinh thần của Wabi Sabi

Bài học của vũ trụ là gì?

Chân lý đến từ sự quan sát tự nhiên(20). Người Nhật luôn cố gắng để làm chủ được thiên nhiên ở bất kì nơi đâu, nhiều nhất có thể được trong phạm vi của công nghệ cho phép. Nhưng về thời tiết thì có một chút ngoài khả năng – độ ẩm và nóng vào mùa hè, lạnh và khô vào mùa đông, lượng mưa trung bình của ba ngày trong suốt năm, trừ mùa mưa đầu hè khi mà mọi thứ đều chìm trong một màn sương ẩm từ 6-8 tuần. Và thứ nữa đó là động đất, núi lửa, bão lũ, hỏa hoạn và sóng thần đến và đi và không hề báo trước. Người Nhật không hoàn toàn đặc biệt tin  vào tự nhiên nhưng họ học được nhiều bài học từ đó. Ba bài học lớn nhất mà họ rút ra từ lịch sử nghìn năm chống chọi và sống chung với thiên nhiên (có ảnh hưởng của Đạo Lão) đưa vào thành thứ minh triết của Wabi Sabi.

  1. Mọi thứ đều là vô thường. Mọi thứ của vũ trụ rồi sẽ trở thành hư vô, không loại trừ bất kỳ cái gì, là điều không thể tránh. Thậm chí những vật liệu vô cùng rắn chắc, khó phản ứng cũng là một ảo tưởng của sự vĩnh cửu. Chúng ta cứ giả như không thấy , tâm trí dùng mọi mưu mẹo để quên đi nhưng đều không tránh được sự thực là mọi thứ đều tan vào hư vô. Cả hành tinh và những vì sao, thậm chí cả những thứ vô hình như tiếng tăm, truyền thống gia đình, ký ức lịch sử, thuyết khoa học, mệnh đề toán học, kiệt tác văn học nghệ thuật (bao gồm cả dạng điện tử), tất cả đều sẽ tan biến vào lãng quên và hư vô.
  2. Tất cả đều bất  toàn. Không gì tồn tại mà không có khiếm khuyết. Khi ta nhìn thật gần vào mọi thứ, ta sẽ thấy rằng mọi thứ không thực sự hoàn hảo. Cạnh sắc của lưỡi dao khi phóng đại lên thì vẫn có những vết lõm, gồ ghề. Mọi người thợ thủ công đều biết giới hạn của sự hoàn hảo : chính là sự thách thức của cái bất toàn. Và khi mọi thứ bắt đầu sụp đổ và quay lại trạng thái sơ khởi, chúng thậm chí  còn trở nên kém hoàn hảo và bất thường hơn.
  3. Tất cả đều chưa hoàn thành. Tất cả, bao gồm chính vũ trụ đều đang trong một quá trình sinh diệt viên miễn. thường thì chí ta hay tùy tiện chỉ ra một điểm kết thúc hay chấm dứt, nhưng khi nào thì số phận của một vật tới hồi kết? Cây cối sẽ kết thúc khi ra hoa? Khi kết hạt? Khi hạt nảy mầm? Hay khi mọi thứ trở lại với đất? Khái niệm về sự hoàn tất không có chỗ đứng trong Wabi-Sabi.

“Sự vĩ đại” tồn tại trong những điều nhỏ bé, ta ít để ý tới. Wabi Sabi chính xác như một đại diện cho tư tưởng đi ngược với phương Tây về cái đẹp của họ như một cái gì đó tựa như những đền đài công trình to lớn, kỳ vĩ, trường tồn. Wabi Sabi không được tìm thấy trong tự nhiên trong thời kì nở rộ hay còn xanh tốt mà là lúc còn chưa trưởng thành hay đã tàn lụi. Wabi Sabi  không là vẻ lộng lẫy của hoa trái, không là vẻ hùng vĩ của cây cối, không là vẻ ngoạn mục đẹp đẽ của phong cảnh. Wabi Sabi là những thứ khiêm nhường và còn tiềm tàng, những thứ còn ngập ngừng hoặc phù du, những thứ phảng phất mong manh, chóng tàn phai. Nó không thể thấy được với những nhãn quang tầm thường.

Như một liều thuốc “vi lượng đồng căn”, Wabi Sabi được chia làm nhiều phần nhỏ. Khi liều lượng càng giảm bớt, kết quả càng khả quan. Những thứ càng gần với sự phù du hư ảo, chúng càng tinh tế và gợi nhiều liên tưởng. Nghĩa là, để cảm nhận được giá trị Wabi Sabi, ta phải sống chậm lại, kiên nhẫn, phải nhìn mọi thứ thật gần(21).

Vẻ đẹp có thể được khai phá từ những thứ tưởng chừng xấu xí. Wabi Sabi  không rành mạch trong việc tách rời cái đẹp khỏi cái không đẹp hoặc xấu. Vẻ đẹp Wabi Sabi , trong khía cạnh nào đó, là điều kiện cho ta đi tới tận cùng với cái mà ta vẫn cho là xấu xí. Wabi Sabi  đưa ra khái niệm vẻ đẹp là khả năng nảy sinh bất chợt giữa ta và một khách thể. Vẻ đẹp có thể phát sinh một cách rất tự nhiên ở bất cứ thời điểm nào mà hoàn cảnh, ngữ cảnh thuận lợi hay một quan điểm thích hợp mang lại. Vẻ đẹp theo cách đó là một trạng thái thay đổi của nhận thức, một khoảnh khắc phi thường của thơ ca và sự duyên dáng.

Nơi những thương gia giàu có, vị Samurai hay quý tộc thực hành nghi lễ trà đạo là một kiểu túp lều nông dân xa xưa, thứ làm nguyên mẫu cho thiết kế của trà thất kiểu Wabi Sabi, là một không gian bình dị và tồi tàn. Nhưng, trong một bối cảnh thích hợp, với sự dẫn dụ của cảm quan, nó lại mang tới một vẻ đẹp lệ biệt. Tương tự vậy, những đồ pha trà đời đầu thường khá thô mộc, trông khá xoàng xĩnh và xỉn màu. Với những người đã quen với tiêu chuẩn vẻ đẹp phải tinh xảo, tráng lệ và hoàn hảo thì sẽ cho rằng nó thật sự xấu xí. Hầu như những người đi đầu của Wabi Sabi  cố tình tìm kiếm những thứ kiểu mẫu mộc mạc, không đẹp theo tiêu chuẩn chung nhưng không quá lố bịch – và tạo một sự thay đổi vị thế ở nơi mà mà chúng có thể chuyển sang vị trí đối nghịch.

Wabi Sabi – trạng thái của tâm thức

Ta cảm nhận thế nào về những thứ ta biết?

Chấp nhận thực tại. Wabi Sabi là một quan niệm thẩm mỹ trân trọng những thứ phù du của cuộc sống. Cây cối xanh tốt vào mùa hạ lại trở nên khô héo dưới trời đông. Tất cả những gì còn lại của lâu đài thành quách nguy nga xưa kia là nền móng đổ vỡ bao phủ che lấp bởi lau sậy và rêu mốc. Hình ảnh Wabi Sabi bắt ta phải suy nghĩ về cái chết của chính mình, gợi lên một nỗi buồn hiện sinh nhẹ nhàng. Chúng khuấy lên một niềm an ủi pha lẫn chua xót, bởi ta biết mọi thứ rồi sẽ có chung một số phận.

Trạng thái Wabi Sabi  tâm thức thường được chuyển tải qua thơ ca, bởi chính thơ ca lại cung cấp phương tiện cho việc diễn đạt những cảm xúc, nhưng hình ảnh có dư ba mạnh mẽ có lẽ còn lớn hơn nhiều cái khung ngôn từ chứa đựng chúng (điều này gợi liên tưởng tới một vũ trụ bao la hơn cái ta thấy). Rikyu thường mượn bài thơ của Fujiwara no Teika (1162-1241)  để miêu tả cảm xúc Wabi Sabi.

Quanh ta chẳng hoa nở

Lá thích cũng thôi reo

Túp lều ven sông lẻ

Trên bến bờ chạng vạng

Của một đêm thu này.(22)

Chắc hẳn những câu thơ đã gợi lên liên tưởng về một cái đẹp buồn bã của Wabi Sabi. Tiếng quạ kêu thê lương, tiếng ốc nghe buồn bã. Tiếng vọng lại của còi xe cấp cứu qua hẻm núi của một thành phố lớn.

Trân trọng trật tự vũ trụ. Wabi-Sabi gợi lên một vùng đất huyền ảo với tất cả sự  sống động cơ học của mọi thứ hiện hữu, vượt ra ngoài nhận thức thông thường của chúng ta. Sức mạnh nguyên thủy này trong Wabi Sabi làm liên tưởng tới hình tròn – biểu tượng vũ trụ trong Ấn Độ giáo hay trong nhà thờ Trung cổ Châu Âu – được xây dựng như một cách thể hiện lòng tôn trọng với trật tự vũ trụ. Những chất liệu Wabi Sabi gợi nên một cảm giác siêu việt. Cái cách mà ánh sáng đi qua giấy nến trên ô cửa làm chúng trở nên dịu dàng và mờ ảo. Những đường nét trong vết nứt của đất sét khi chúng khô lại. Màu sắc và bề mặt biết đổi của kim loại khi chúng bị mờ xỉn hay han gỉ. Tất cả đều là quy luật của tự nhiên, của một thứ cấu trúc nằm sâu thẳm trong vạn vật.

Wabi Sabi, một quy tắc đạo đức

Nếu biết về cái mà ta thấy, ta nên hành động thế nào?

Hãy loại bỏ những gì không cần thiết. Wabi Sabi có nghĩa là bước đi một cách nhẹ nhàng trên hành tinh này và trân trọng mọi thứ quanh ta, ngay cả những thứ nhỏ bé bình dị nhất mà ta bắt gặp. “Giàu có về vật chất không phải là cái giàu có thực, sự phong phú về tinh thần mới đáng giá” là câu châm ngôn của Wabi Sabi. Nói cách khác, Wabi Sabi khuyên ta hãy ngừng lại những mối bận tâm về sự thành công, giàu có, quyền lực địa vị ..để sống một cuộc đời nhẹ nhõm.

Rõ ràng, để sống một cuộc sống đơn giản theo lý tưởng Wabi Sabi  đòi hỏi phải có nỗ lực, ý chí và có cả những quyết định khó khăn. Wabi Sabi cho rằng để biết lúc nào nên có chọn lựa và lúc nào thì không và để mọi thứ như tự nó là rất quan trọng. Thậm chí khi sống một cuộc đời thanh đạm giản dị nhất có thể thì nó vẫn bao gồm vật chất. Wabi Sabi chính xác là sự cân bằng giữa lòng ham muốn, niềm vui khi sở hữu và và cả niềm vui của sự từ bỏ.

Tập trung vào bản chất bên trong và bỏ qua giá trị vật chất. Phép tắc ứng xử trong trà thất chính là sự giải thích rõ ràng nhất cho giá trị này. Trước hết là biểu hiện của lòng khiêm tốn, mọi người đều phải cúi xuống gần như là chui qua lối cửa vào đã được cố ý làm cho nhỏ và thấp. Một khi đã vào trong, tất cả đều bình đẳng. Suy nghĩ phân biệt – “cái này tốt , cái kia xấu” không được chấp nhận. Sinh viên nghèo hay thương gia giàu có hay giáo chủ quyền lực – những người có vị rất trí khác nhau ngoài xã hội – đều bình đẳng trong này. Tương tự như vậy, với người quan sát tinh tế, những đồ vật trong trà thất đều có một phẩm chất như nhau. Điều này nhằm hướng tới một sự sáng rõ, rằng nguồn gốc cũng như tên tuổi người làm ra đồ vật đó không phải là thứ quan trọng trong Wabi Sabi. Những gì liên quan tới giá trị cũng được đẩy sang một bên. Bùn đất, giấy, tre, thực tế về bản chất  lại có giá trị Wabi Sabi hơn là vàng, bạc hay kim cương. Trong Wabi Sabi, không có khái niệm “đáng giá”, bởi lẽ đó mà hàm ý cả sự “vô giá”. Một đồ vật chỉ có giá trị Wabi Sabi  trong khoảnh khắc mà nó được trân trọng như vậy(23). Do đó, trong trà thất, mọi thứ hiện diện khi chúng mang trong mình giá trị Wabi Sabi. Ra ngoài trà thất, chúng lại quay lại với bản chất thường ngày, và dư âm Wabi Sabi cũng phai nhạt dần.

Chất liệu Wabi Sabi

Những motif, chất liệu hay sự kết hợp nào diễn đạt được cái hiểu của ta về vũ trụ, hay tạo nên cách hiểu đó ở những thứ khác??

Gợi ý từ thiên nhiên. Những thứ Wabi Sabi là hình ảnh của khoảnh khắc mà thời gian ngưng đọng lại. Chúng được làm từ những chất liệu rõ ràng là không tối ưu cho việc sử dụng và không bền bỉ với thời tiết môi trường. Chúng ghi lại những nắng gió, nóng lạnh bởi thứ ngôn ngữ là sự không màu mè, han gỉ, mờ xỉn, cong vênh, ố vàng và bong tróc hay bất kì một trạng thái cũ mòn nào đều là một chứng cứ của lịch sử sử dụng và lãng quên. Mặc dù những thứ Wabi Sabi đang ở thời điểm tinh thần hóa (hoặc vật chất hóa) – có nghĩa là chúng rất mong manh và yếu ớt thì chúng vẫn giữ một ưu thế không hề giảm sút trên cán cân và sức mạnh của cá tính khác biệt.

Bất thường. những thứ Wabi Sabi hoàn toàn xa lạ với những thẩm lối mỹ thông thường. Khi chúng ta đã biết trước phương thức thiết kế “đúng đắn”, Wabi Sabi lại trầm tư đưa ra một phương thức “sai lệch”(24). Kết quả là những sản phẩm ra đời một cách méo mó, kỳ lạ, khó hình dung hoặc những gì mà người ta cho là xấu xí. Những thứ Wabi Sabi được trưng bày như một kết quả của một sự cố, như một chiếc bát đã vỡ và được gắn keo lại. Hoặc chúng phơi bày kết quả của một trục trặc tình cờ, như một tấm vải dệt bất bình thường của một chương trình máy hay một cách thức  cố ý làm sai.

Mối liên hệ mật thiết. Những thứ Wabi Sabi thường nhỏ nhắn và cô đọng, tĩnh lặng và hướng nội. Chúng đưa ra tín hiệu muốn đến gần hơn, chạm vào và tạo ra những liên hệ. Chúng thôi thúc ý muốn  rút gọn khoảng cách về mặt tâm linh giữa các vật và với cả con người.

Không gian Wabi Sabi thường nhỏ, biệt lập và riêng tư nhằm tăng sức mạnh tinh thần và chiều sâu suy tưởng. Trà thất Wabi Sabi, lấy làm ví dụ, diện tích sàn thường nhỏ hơn 100 feet vuông. Chúng thường có trần thấp, cửa sổ nhỏ, lối vào vô cùng bé và ánh sáng rất dịu. Chúng yên bình và tĩnh lặng và được bao bọc như một chiếc bào thai. Đó là một thế giới khác, một chốn hư vô mà cũng có thể là bất cứ nơi đâu. Trong trà thất-không gian Wabi Sabi, mọi thứ dường như được phóng lớn tầm quan trọng trong một sự đảo ngược tỉ lệ với kích thước thực sự của chúng.(25)

Khiêm tốn. Những thứ Wabi Sabi không màu mè và có vẻ ngoài quen thuộc. chúng không om sòm: “tôi quan trọng lắm” hoặc đòi hỏi là trung tâm. Chúng thường khá dè dặt và khiêm nhường nhưng không hề mất đi thứ quyền lực lặng lẽ. Chúng nhẹ nhàng tồn tại cùng phần còn lại của thế giới(26).

Những thứ Wabi Sabi có được giá trị của chúng chỉ trong mối liên hệ và quá trình sử dụng. Chúng không phải là những thứ khóa trái trong viện bảo tàng cần một sự đảm bảo hay công nhận của thứ văn hóa thị trường. Không cần bằng chứng về nguồn gốc cũng như không đời nào phụ thuộc vào nền tảng danh tính của người tạo nên chúng hay cái gì đó cá nhân. Thực tế, nó tuyệt nhất khi người làm ra không quá đặc biệt, vô danh hoặc ẩn danh.

Đất. Những thứ Wabi Sabi có thể nhận ra trong sự tồi tàn, không tinh xảo. Chúng thường được chế tác từ những vật liệu không xa rời nơi ban đầu chứa chúng. Đất thường có nhiều họa tiết sống động và mang lại cảm giác thô nhám khi chạm vào. Sự vi tế của chúng khó có thể phân biệt được.

Âm u. Những thứ Wabi Sabi thường mơ hồ, không rõ nét và giá trị mờ phai – như là những thứ chuẩn bị tan vào hư vô. Một khi – những cạnh sắc trở nên mềm mại, mờ xám. Một khi, những vật liệu tưởng chừng vô cùng rắn chắc, xuất hiện như những bọt biển. Một khi – những màu sắc bão hòa phai nhạt thành những sắc màu sương khói của buổi bình minh hay chạng vạng. Wabi Sabi đến trong một thứ quang phổ xám bất tận: xám nâu xanh, xám bạc đỏ, xanh chàm vàng..và nâu: nâu đậm pha xanh, màu xanh trầm..và đen: đen ánh đỏ, ánh xanh, ánh nâu…

Ít thường xuyên hơn Wabi Sabi có thể xuất hiện sáng sủa, nhưng thường là những màu nhạt và nhẹ kết hợp với một chút bất thường hư vô. Như thứ carton chưa bị tẩy trắng, màu của sợi gai, của giấy tái chế. Màu phấn bạc nơi búp non, màu nâu xanh của chồi đang nhú.

Đơn giản. Sự đơn giản là cốt lõi của Wabi Sabi. Hư vô, tất nhiên là một sự giản đơn sau cùng. Nhưng trước và sau hư vô, sự đơn giản thì không giản đơn. Để diễn giải điều này, Rikyu đã đưa nó vào trong trà , đơn giản là chính nó: nước, củi, động tác chuẩn bị, phục vụ người khác. Hơn thế nữa, Rikyu gợi ý nên rời xa kiểu đầu óc trạo động.

Nhưng làm sao ta có thể luyện tập sự kiên nhẫn mà cái giản dị đòi hỏi mà không phải vượt qua trong sự khổ hạnh một cách phô trương. Làm sao ta có thể tận tụy trong từng thứ nhỏ nhặt mà không thành kiểu cách quá đáng? Làm sao để đạt tới sự giản dị mà không vướng vào sự buồn tẻ?

Sự đơn giản Wabi Sabi có lẽ là một mô tả tốt nhất cho trạng thái quay về tỉnh thức, khiêm tốn, trí tuệ chân thật. Chiến lược chính của trí thông minh này là tiết kiệm vật chất. Bớt đi để đến gần với bản chất cốt lõi nhưng không làm mất đi sự nên thơ. Giữ mọi thứ sạch sẽ, không vướng víu nhưng không làm cho khô cứng (Wabi Sabi thường ấm và không bao giờ lạnh lẽo). Thường thì nó gợi ra một bảng vật liệu nghèo nàn. Nó cũng có nghĩa là đưa những nét đặc trưng trở về tối giản. nhưng không có nghĩa là loại bỏ chuỗi đan xen vô hình đã làm che mờ cái thấy vạn vật đồng nhất thể. Nó cũng không có nghĩa là bằng cách nào đó làm giảm bớt sự lôi cuốn và thú vị, đặc tính buộc ta nhìn vào là cái gì đó là ở bên trên, trên nữa và trên nữa.

Chú giải:

  • (1) Bên cạnh ý tưởng  không gian  lấy tre làm chủ đạo bên ngoài  bởi Teshigahara, cấu trúc còn lại thiết kế bởi Tadao Ando, Arata Isoyaki và Kyonori Kikutake. Công trình được gọi là “The Great Numazu event”, là một liên tưởng trực tiếp tới “Đại hội trà tại đền Kitano” tổ chức tháng 11 năm 1587, có quy mô lớn nhất tính tới thời điểm đó trong lịch sử. Vị thống soái Toyotomi Hideyoshi, sau khi chiếm được vùng phía nam đảo Kyushu, ban hành một sắc lệnh tới những người đang thực hành trà đạo, bất kể giàu nghèo, phải tham dự vào ngày hội của ông ta được tổ chức tại đền Kitano tại Tokyo. Khoảng 800 lều bằng gỗ thông đã được dựng lên kín sân khu đền thờ.
  • (2) Xuyên suốt cuốn sách này, khái niệm”thẩm mỹ” ý nói tới những giá trị  và quy tắc chủ yếu – đường lối để có những nhận thức và quyết định đúng đắn về thẩm mỹ.  Tiêu chuẩn về một giá trị “thẩm mỹ” là thứ nhất nó phải khác biệt (sự khác biệt nổi lên với những thứ hỗn loạn nhập nhằng, thường thường chứ không phải sự khác nhau đơn thuần). Hai là phải rõ ràng sáng sủa (thẩm mỹ nói tới phải định nghĩa được – rõ ràng – thậm chí cả những giá trị thẩm mỹ về những thứ mơ hồ. Ba là phải không gián đoạn.
  • (3) Trước đây, Wabi Sabi là một hệ thống cấu trúc không chính thống. Liệu sự chạm tới của cuốn sách này có là đúng đắn  không? Sen no Rikyu, vị thầy tối cao Wabi-Sabi xét theo học thuật, đã như một bằng chứng để có thể phát biểu rằng có thể nắm được tinh yếu của quy tắc hay vấn đề nếu thấu triệt nó một cách hoàn toàn. Sau đó nếu một ai khao khát, một dạng phát sinh mới có thể hiệu chỉnh để đáp ứng những nhu cầu của hiện tại. Ở một nghĩa nào đó, tác giả của cuốn sách này đã làm như vậy với Wabi-Sabi.
  • (4) Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ và đã lan truyền sang Trung Hoa ở thế kỷ 6 sau Công nguyên, nơi mà nó đã được phát triển rộng khắp hơn. Đạo Phật truyền bá tới Nhật bản vào khoảng thế kỷ 12, nhấn mạnh vào cái “nhận biết chân thật vượt ra ngoài mọi kiến giải”. Cốt tủy của cả Wabi-Sabi và Thiền là vượt lên cái nhìn và suy nghĩ thông thường về vạn vật. Hư vô chiếm vị trí trung tâm của lý thuyết trừu tượng Wabi-Sabi cũng như trong Thiền tông.
  • (5) Mọi công việc làm ăn của Iemoto ở Nhật được sắp xếp trong một cấu trúc kim tự tháp, đứng đầu là Iemoto. Một phần học phí của học viên được trả trực tiếp cho gia sư đã động chạm tới quyền lợi Iemoto và vì vậy, những người đứng đầu kế nhiệm này (thường là con trưởng), đã cắt lấy phần đó. Ngày nay, rất nhiều gia tộc Iemoto vô cùng giàu có đã mở rộng phạm vi công việc kinh doanh tới những lĩnh vực khá xa rời thứ văn hóa mẫu mực.
  • (6) Sự phân cực “Đông” –  “Tây” chỉ là một cách gọi tắt nhằm thuận tiện cho việc diễn đạt. Cũng như việc sử dụng tên của những người, sự kiện nổi tiếng như là biểu tượng cho thứ văn hóa được công nhận trên một thế hệ. Đặc biệt cẩn thận là thứ nên học trong đức tính tiêu biểu của người Nhật cũng như phương Đông. Nhất là sau thế chiến thứ 2, rất nhiều sáng kiến và giá trị của phương Tây đã phát triển thành sáng kiến và giá trị của Nhật Bản, kết quả là thẩm mỹ Nhật Bản đã từng bước thay thế cho cái đến từ châu Mỹ hay châu Âu.
  • (7) Có một vài sự tương thích khá thú vị giữa chủ nghĩa hiện đại và Wabi-Sabi. Trong xã hội Nhật bản hiện đại, lấy ví dụ, cái mà ta thấy mang phong cách Wabi-Sabi trong trà thất hay nhà hàng thì lại nằm trong không gian hiện đại của các tòa cao ốc toàn kính và thép. Thậm chí rất lạ là  Kobori Enshu(1570-1647), một trà sư, lại nổi danh với thiết kế cung điện biệt lập Katsura ở Kyoto. Với mặt bằng mở và trang trí không màu mè kết hợp đã có ảnh hưởng lớn lên tư duy của rất nhiều kiến trúc sư thời kỳ đầu hiện đại ở phương Tây. Dù Enshu thực tế có là một nhà thiết kế hay không, công trình Katsura đã có ảnh hưởng ngấm ngầm, gián tiếp đưa Wabi-Sabi vào thành một trong những tinh thần chính của chủ nghĩa hiện đại.
  • (8) Theo lý tưởng của một trà thất thì phải là một tổ hợp của những nghi lễ mà trong đó mọi người có mặt đều vào cuộc. Như một chỉ dẫn cơ bản và duy nhất của nhà soạn nhạc John Cage đã nêu rõ ra phương pháp và nghi thức, rằng mỗi một nghi lễ đều phải tạo ra một không gian nghệ thuật ghi dấu ấn như một tác phẩm. Bởi hầu hết mọi người tham gia đều được coi như những chuyên gia, hiểu biết của họ được hình thành dần trong chính cấu trúc của nghi thức (mỗi thiết kế tinh tế đều gợi nhắc tới những nghi thức, thể văn thơ, cuộc trò chuyện từ xa xưa..) , Vì vậy mà những nghi thức sau này thậm chí còn sâu sắc, nhiều lớp lang ý nghĩa phức tạp hơn.
  • (9) Vào thế kỷ 16, trà thất tựa như những sân golf hiện nay cho giới kinh doanh ở Nhật. Đó là nơi những thương gia giầu có gây dựng những mối quan hệ làm ăn mới, đó cũng là nơi cho những binh lính xả hơi sau khi kết thúc trận đánh và ăn mừng chiến thắng. (Tất cả binh lính đều được học về trà đạo trong quân đội)
  • (10)Có rất nhiều giai thoại, hầu hết chúng đều được thêu dệt hoặc tô điểm thêm cho mục đích truyền bá tư tưởng trong lịch sử trà đạo. Một câu chuyện kiểu như vậy là về bài “nhập môn” của Rikyu trước khi ông được chấp nhận làm đệ tử của vị trà sư Takeno Joo. Rikyu được sai quét dọn lá rụng trong vườn. Đầu tiên ông quét cho đến khi không còn sót một chút rác nào. Sau đó, trong một cử chỉ đầy hàm ý Wabi Sabi, ông tới lắc một thân cây lớn cho vài chiếc lá rơi xuống. Wabi Sabi, như một minh chứng ở đây, đó là sự sạch sẽ nhưng không khô khan và khắc nghiệt. Cũng gần giống như vậy trong một giai thoại khác kể khi Rikyu đã trở thành trà sư và người muốn làm học trò là con trai ông. Trong giai thoại này thì Rikyu đã rung cho lá rơi như một lời quở trách tới người con trai đã dọn khu vườn quá sạch sẽ đến độ không còn một chút lá nào.
  • (11)Đầu tiên Wabi Sabi là những chất liệu mà Rikyu và những người bạn đồng liêu tìm thấy trong nhà ở của người nông dân trong những chuyến đi. Rốt cuộc, Rikyu trở thành một “giám đốc sáng tạo” và kiêm luôn thợ thủ công để chế tác những thứ mang thứ cảm giác mới mẻ này.
  • (12)Phong cách trà thất như một túp lều nhỏ bé với việc sử dụng những đồ pha trà thô mộc đi ngược lại trào lưu kiểu cách của xã hội thời bấy giờ thỉnh thoảng được ví với cái cách Marie Antoinete trưng bày và sắp đặt những cô gái chăn cừu và vắt sữa, phục sức bằng váy vải sợi bông và mũ rơm, trong những túp lều của người nông dân được dựng lên trong một góc của khu vườn cung điện Versailles. Hoàn toàn có thể nói rằng, những thứ mà Rikyu làm hoàn toàn nghiêm túc hơn nhiều. Dụng ý thẩm mỹ sâu sắc đi ngược lại với những thú vui mang tính giả trí mới lạ đơn thuần. Những người theo sau Rikyu sau này, đã từng (và đang) rất giàu có, cố tình sống theo lối nghèo nàn  kiểu Wabi Sabi, lại dường như gần với phong cách của Marie Antoinete hơn. Vài túp lều “giản dị” của họ được làm từ những vật liệu đắt tiền nhất và chế tác  khéo léo nhất, đôi khi còn có giá hơn cả căn biệt thự lớn. Những đồ pha trà trông có vẻ khiêm nhường của họ thực ra lại cực kỳ đắt tiền.
  • (13)Thật khó để hiểu Rikyu thực sự định nghĩa thế nào về Wabi Sabi khi mà hầu như tất cả chúng ta đều chỉ biết về lý tưởng của ông qua hai nguồn tham khảo. Tài liệu quan trọng thứ nhất là cuốn Nanbo Roku, được cho là viết sau khi Rikyu mất bởi Nanbo – một thiền sư , học trò và cũng là bạn của Rikyu hồi ở quê nhà Sakai (gần Osaka). Nhưng vài học giả cho rằng đó chỉ là thứ giả mạo mưu mẹo, phiên bản hợp pháp duy nhất giúp ích cho việc “khám phá” này viết bởi Tachibana Jitsujan, một võ sĩ Samurai và là người thực hành trà đạo, sau kỷ niệm 100 năm ngày mất của Rikyu. Một tài liệu khác, Yamanoue Sojiki, một tập ghi chép lại những chủ đề và đối tượng được sử dụng các buổi trà đạo mà người học trò lâu năm của ông là Yamanoue Sogi. Cả hai cuốn sách đều được sử dụng dể thẩm định vị trí của những tư tưởng hay kiểu cách có liên quan tới trà đạo và Wabi Sabi.
  • (14)Một mặt khác của sự thực hành này là lòng tin, từ Thiền, là thân thể, chứ không phải ngôn ngữ, là nơi cất giấu của hiểu biết và kỹ thuật. Do đó trà đạo tập trung vào những bài thực hành “vô trí”.
  • (15)Giao tiếp giữa con người, dường như có vẻ là phần thứ yếu theo lý tưởng của Rikyu trong trà đạo Wabi Sabi. Cuốn Nanbo Roku đã khuyên những người thực hành không được đồng bộ cảm giác của mình với những vị khách trừ phi nó xảy ra một cách tự nhiên. Nói cách khác: đừng để những liên hệ con người cản trở bạn trên con đường đạt tới và duy trì “cảnh giới” Wabi Sabi. Vật dụng cũng như con người được đối xử như nhau trong Wabi Sabi. Wabi Sabi không phải là thứ triết học vị nhân sinh, cũng không phải là cái gì đó thiêng liêng thần thánh về cuộc sống, về lòng nhân đạo của con người, hay về cái thiện – cái ác.
  • (16)Sabie (sa = trà, bi = vẻ đẹp, e = gặp gỡ, có nghĩa là “hội ngộ vẻ đẹp của trà”) là tên của một tổ chức của những người yêu văn hóa trà cấp tiến. Đứng đầu là Masakazu Izumi, con thứ (vì vậy không phải là Iemoto trong tương lai) của một gia đình có trường dạy về trà đạo ở Nhật. Đường lối nghệ thuật của hội này ảnh hưởng cơ bản từ ngày đầu bởi Ikko Tanaka, một trong những chuyên gia đầu ngành của thiết kế đồ họa và Junji Ito, một nhà phê bình nghệ thuật tiếng tăm và là điều phối viên nghệ thuật.
  • (17)Kết quả hữu hình của Sabie tới nay là những trà thất và trà cụ, nguyên được trưng bầy ở những cửa hàng bách hóa ở Nhật. Nhưng có vài sự nghi ngờ về tính chất của Wabi Sabi. Hầu hết chúng có vẻ như quay lại thời điểm trước Rikyu, đó là trước khi có một sự hợp nhất về định nghĩa của khái niệm Wabi Sabi. Chúng dường như gần hơn với những thứ tiêu khiển mua vui tinh xảo đẹp đẽ.
  • (18)Cho đến giờ, Wabi Sabi chưa bao giờ được xuất hiện một cách chính thống và ở một ngôi thứ cao. Qua việc áp đặt cấu trúc trí tuệ khôn ngoan này, tác giả cảm thấy Wabi Sabi trở nên dễ thấu hiểu hơn.
  • (19)Một phép so sánh trực quan cho sự tồn tại và biến mất, bằng chứng cho sự phù du là hoa anh đào, một trong những hình ảnh biểu tượng mạnh mẽ nhất của văn hóa Nhật Bản. Mùa xuân hoa anh đào chỉ nở rộ trong vòng một tuần. Nhưng chỉ cần một cơn mưa hay gió bất chợt có thể làm những cánh hoa phớt hồng mỏng manh kia rơi xuống bất kì lúc nào. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, trong cả đất nước, từng nhóm lớn nhỏ khác nhau trải chiếu hoặc những tấm chăn mềm ngồi dưới gốc cây. Ngay lập tức đã có một không gian – không giống với cấu trúc thường ngày – một lễ hội ngắm hoa diễn ra. Sự vĩnh cửu và xót xa của hình ảnh hoa anh đào gợi trong ta một suy nghĩ về tính phù du mong manh của nó. Một khoảnh khắc trước khi từ giã, một khoảnh khắc trước khi mọi thứ tàn tạ…
  • (20)Trong ngữ cảnh nói tới “tự nhiên” Wabi Sabi có một vài ý nghĩa. Nó gợi tới cái giới hạn thể lý không thể chạm tới được của con người: mọi thứ đều trong trạng thái nguyên thủy và trong suốt của nó. Trong ý này, tự nhiên là những thứ như đất, cỏ cây, động vật, sông núi và các lực tự nhiên- có lúc hiền lành, có lúc dữ dội – mưa, gió, nước, lửa,v,v..nhưng tự nhiên trong nghĩa Wabi Sabi cũng chứa đựng cả những ý nghĩ của con người, những suy nghĩ và tạo tác không mang tính tự nhiên. Trong ý nghĩa này Wabi Sabi ngụ ý nói tất cả cùng tồn tại, bao gồm cả những quy luật tồn tại mà ta không thể thấy. Và trong nghĩa này Wabi Sabi  có sự tương đồng với phương Tây, lý tưởng tất cả đều đồng nhất với Chúa trời.
  • (21)Một hình thức của trà đạo vẫn tồn tại cho tới ngày nay là tập trung nghiêm túc vào mỗi vật dụng trong nghi lễ. Nó có nghĩa là không chỉ chú ý vào chi tiết của ấm trà, chén trà, bình đun nước và những thứ tương tự như thế mà còn là những thứ như bình cắm hoa, thậm chí là than củi được dùng để đun nước. Những thứ xưa kia diễn ra tự nhiên thì giờ là sự bắt chước lặp lại cứng nhắc – có những quy tắc rõ ràng về thời điểm, cách thức sử dụng dụng cụ và khi nào thì đưa ra những câu hỏi về chúng – nhưng ít nhất điều này cũng bắt ta phải dành sự chú ý và hy vọng rằng chúng ta có thể thực sự “thấy” mọi thứ trước mắt ta.
  • (22)Dịch bởi Toshihiko Toyo Izutsu
  • (23)Những dụng cụ pha trà ban đầu được  thiết kế bởi Rikyu đã từng là những dụng cụ thủ công vô danh trong các hộ gia đình: những đồ vật hoàn toàn không có một vị thế. Nhưng vị thế, nó dường như, luôn xoay sở để đòi hỏi chính nó bất kỳ khi nào có cơ hội, và hầu hết đột nhiên tăng giá cho những thứ trước đây là xấu xí tầm thường. Một khi cái gì đó trở nên đáng giá, đắt đỏ, nó tự chấm dứt giá trị Wabi Sabi. Nó trở thành, thay vào đó là đồ vật đắt đỏ gợi nhớ tới cái đã từng là một thời khắc sống động. không thể nói rằng có quá nhiều những thứ “có vẻ”  Wabi Sabi trong bảo tàng trên khắp đất nước Nhật bản. Nhưng chúng chỉ là những cái vỏ, những thứ nhìn có vẻ Wabi Sabi nhưng không còn giá trị thực sự nữa. Trong vài năm cuối thập kỷ 60 đầu thập niên 70 có một hoạt động nghệ thuật Nhật bản gọi là  Mono-ha (học hỏi từ mọi thứ) đã có cùng chung đặc tính trân trọng mọi thứ trong khoảnh khăc của Wabi Sabi. Những nghệ sĩ Mono-ha sử dụng những chất liệu thiên nhiên như cỏ cây, đá sỏi và tạo nên một sắp đặt nghệ thuật. Một phần của chỉnh thể trong tác phẩm của họ là đặc tính không thể sưu tập được. (Không một nhà sưu tầm hay bảo tàng nào có thể sở hữu chúng). Như một nhà phê bình đã nói: “Chúng từ chối khái niệm về sự hoàn hảo và hoàn tất của một sự vật”. Những tác phẩm tạo hình của họ hoàn toàn chỉ là một sự hợp nhất tạm thời…không có căn nguyên tạo nên giá trị tiền bạc.
  • (24)Nhà sản xuất và nhân công luôn phấn đấu để gia tăng độ đồng đều và khuôn mẫu của sản phẩm. Mỹ thuật công nghiệp và kiến trúc đều dựa trên những bản vẽ hoàn chỉnh và chính xác. Nếu làm thay đổi quá trình hay cấu trúc, ta sẽ phải trả một giá rất đắt. Nhưng rất nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế thì chán nản với những thứ hoàn hảo. Những thứ đang trong quá trình, như một tòa nhà trong giai đoạn phác thảo bao giờ cũng hình tượng hơn chính nó khi đã hoàn thành. Những cái khác biệt và bất thường nên thơ thật khó để sản xuất hàng loạt. Một yếu tố nữa góp phần chống lại sự cái bất thường là sự tràn lan của những mẫu mã thiết kế dựa trên hình học chính xác Ơclit. Mọi sản phẩm sản xuất hàng loạt thì đều là những kiểu đường thẳng, đường tròn, đường cong hay tam giác hoàn hảo. (Những hình học cứng nhắc, không trùng hợp đã trở thành những biểu tượng thị giác của chính ngành thiết kế). “Luật” của hình và dáng tự nhiên thì phong phú hơn. Năm 1980 cuốn “Phân dạng hình học của tự nhiên” của nhà toán học Benoit B Mandelbrot đã làm sáng tỏ những dạng hình học khác có thể sử dụng trong toán học để mô tả những dạng hình và bề mặt bất bình thường như sần sùi, rối, lưa thưa hay nhăn nhúm…
  • (25)Wabi Sabi là phản đề của lý tưởng về một “vũ trụ toàn vẹn”, khái niệm về một thứ nguyên mẫu có thể đạt chức năng thẩm mỹ ở bất kì tỷ lệ nào. Từ góc độ Wabi Sabi mật độ thông tin chứa đựng bên trong mọi thứ có thể thay đổi, cũng như với con người trên từng thang độ. Chắc chắn rằng thiết kế cho rằng một cái cabin thì khác với nhà ở. Nhưng có vài kiến trúc sư xử lý với thiết kế  một tòa nhà mà không hơn gì một mẩu phóng to của đồ đạc.
  • (26)Triết lý thẩm mỹ của nhà trọ lâu đời và nổi tiếng nhất của Kyoto (quán trọ 300 tuổi Tawayara, 700$ một người một đêm bao gồm hai bữa ăn), tóm lại hai quy tắc kiên định của Wabi Sabi là (1) “Không một thứ gì hay chi tiết nào trong bất bất kì không gian nào nổi bật hơn những thứ còn lại” và(2) “Bạn không cần tôn sùng những thứ cũ kỹ để tưởng nhớ thời xưa. Nếu nó mới và hợp lý, hãy dùng chúng”

, , , ,

Leave a comment

Đàn bà từng trải

Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch

“Bữa nọ lên mạng, thấy có cô gái trẻ tự nhận mình đàn bà, rồi chửi đàn ông , rồi hút thuốc, rồi uống rượu, rồi mặc áo trễ ngực chụp hình trong bar, kêu gào bản thân đại diện cho mẫu đàn bà mạnh mẽ, từng trải, không cần đàn ông nữa. Chợt nghe thấy buồn…”

Đàn bà từng trải đâu phải vậy.

Đàn bà từng trải, họ không mặc đồ hở hang. Họ kiểm soát được thứ đưa cho đàn ông nhìn, vì biết đàn ông sẽ đến với mình vì thứ đó, rồi lúc kiếm được thứ hấp dẫn hơn cũng sẽ rời bỏ mình. Nên đàn bà từng trải thích mặc đồ kín đáo một chút, vẫn hở nhưng hở trong vòng cho phép, vẫn còn cái kín đáo để đàn ông tò mò mà lò dò theo sau. Cái kín đáo chết người!

Đàn bà từng trải, không uống rượu nhiều hay hút thuốc như nghiện. Họ thích cầm ly vang, trước khi uống đặt làn môi mọng đỏ lên miệng ly, nhẹ nhàng nhấm nháp cái đắng cay biết chắc ít hơn đời mình. Bật điếu thuốc trước khi hút sẽ dùng lưỡi kéo nó lại gần, gợi dục và kích thích, nhưng đàn ông nhìn sẽ tự khắc hiểu, không dễ chạm vào thế giới đằng sau làn khói kia đâu.

Đàn bà từng trải, ít khi khoe khoang về bản thân, ít khi muốn nói về câu chuyện của mình, bởi qua rồi, còn gì để mà nặng lòng để nói, chỉ muốn im lặng, nghe câu chuyện của người xung quanh, người đối diện. Vì hơn ai hết trong đời, đàn bà từng trải hiểu cảm giác cần có một người chỉ im lặng nghe mình nói biết bao nhiêu.

Đàn bà từng trải, không mạnh mẽ. Chỉ là bản thân như miễn nhiễm với buồn vui thế sự bên ngoài, chỉ muốn được vui buồn chuyện vụn vặt bản thân, như sáng nay làm được cái bánh ngon mời bạn cũ, như cái cây trồng trên bàn làm việc nay có cái lá héo vàng, tự hỏi đời mình có còn xanh?

Đàn bà từng trải, vui ít cười, buồn nhất định không khóc. Không thù ghét hay căm hận bất kỳ ai, sống đời không quá gắt gao ở bất kỳ thái cực nào, đặt sự cân bằng ở đầu danh sách những thứ phải có được. Biết rằng ai rồi cũng sẽ đến ngày nằm xuống, phí thời gian làm chi cho giận hờn hoài phí.

Đàn bà từng trải, thích đọc sách, xem phim. Tự tìm niềm vui ở một cuộc sống mình chưa từng nếm trải. Thỉnh thoảng tiếc cái thanh xuân vùn vụt hồi nào, nhưng hài lòng vì thời gian ban ơn sự tịnh lặng trong cõi tâm hồn. Để rồi chợt khóc, chợt buồn cho một số phận trong sách, để rồi trân trọng những người hiện sinh trong đời thực.

Đàn bà từng trải, chọn im lặng nhìn đời, không ồn ào, không hằn hộc, chỉ là những niềm riêng rất nhỏ giấu vào một góc suy tư…

Đàn bà từng trải là vậy đó!

Leave a comment

Em giấu gì trong tay

EM GIẤU GÌ TRONG TAY
(Nguyễn Thế Hoàng Linh)
—–

Em nắm hai bàn tay
Và bảo tôi chọn một
Em giấu gì trong ấy
Ngọt ngào hay đắng cay

Lắc đầu em chẳng nói
Vẻ mặt em lạnh lùng
Sao tôi đang dằn vặt
Mà em vẫn ung dung

Em giấu gì trong ấy
Ở lại hay chia tay
Em giấu gì, trời hỡi
Hờ hững hay đắm say

Em giấu gì trong ấy
Tôi bỗng giận em nhiều
Hay bỗng dưng em muốn
Đùa bỡn với tình yêu

Tôi bảo tôi không chọn
Chọn đi, em dỗ dành
Tôi bảo tôi không chọn
Mặt em bỗng tái xanh

Em bảo tôi phải chọn
Nếu không hãy giã từ
Thì đằng nào chả thế
Tôi quay gót, ngần ngừ

Nhưng em không gọi lại
Tôi bỗng giận điên cuồng
Hóa ra bao hò hẹn
Chỉ là trò chơi suông

Nhưng rồi tôi áy náy
Nàng đã có lỗi gì
Nàng giấu gì trong ấy
Gì đây hỡi cỏ cây

Nàng chờ tôi xin lỗi
Tôi cũng thế, đợi nàng
Thế rồi thu chào hạ
Nàng lỡ bước sang ngang

Cũng kể từ ngày ấy
Tôi đã sớm để tang
Xòe, nắm, nắm, xòe, nắm
Trong những ngày lang thang

Một hôm tôi bỗng thấy
Thơ thẩn ở bên đường
Cô bé và cậu bé
Trong mưa phùn ẩm ương

Cũng chìa đôi tay nắm
Cũng tỏ vẻ lạnh lùng
Những mắt không giấu nổi
Một tia sáng mông lung

Rồi cậu bé chọn một
Cô bé giở bàn tay
Một bàn tay trắng xóa
Mũi tôi bắt đầu cay

Cô bé cười khúc khích
Bàn tay kia mở xòe
Tôi không tin vào mắt
Một giọt kẹo tròn xoe

……

Nhưng rồi tôi bỗng hiểu
Tôi đã chẳng yêu nàng
Tất cả, ừ, tất cả
Chỉ là thói đa mang

Rồi tôi bỏ nỗi nhớ
Tôi vun lại xanh ngày
Thế mà tôi vẫn hỏi
Em giấu gì trong tay?

Leave a comment

While Your Lips Are Still Red

Cũng đã lâu lắm rồi kể từ lần cuối cùng tôi viết một entry đúng nghĩa cho cái blog này. Người ta thường nói “khi muốn một thứ gì đó, hãy tìm phương tiện; và khi không muốn một thứ gì đó, hãy tìm một lý do” và tôi cũng vậy. Tôi thường lấy lý do không có thời gian cho những lần nhắc nhở đầy ý nhị của blog dành cho tôi về một entry mỗi khi tôi đăng nhập để check số lượt view-per-day. Lý do ấy cũng chỉ là một lý do để cho có lý do, chứ thật ra tôi thiếu cảm xúc để viết. Đã bao lần tôi định bụng là phải viết về một điều gì đó, nhưng rồi lại tự hẹn với mình ngày mai, ngày kia, …. và rồi cuối cùng những cảm xúc khi ấy đã tan biến hoàn toàn vào một ngày đẹp trời khi tôi hứng thú và “cầm bút” lên. Kể ra, viết lách dù ít dù nhiều cũng cần có cảm xúc giống như một người nghệ sĩ vậy, và bấy lâu nay tôi thiếu điều đó.

Lâu nay tôi lang thang, góp nhặt một số bài post thú vị trên internet, vay mượn những xúc cảm của người khác để tha về lưu giữ làm của riêng trong blog của mình. Những bài post đó thật hay, có nhiều bài thật giàu ý nghĩa nhưng cái cảm giác vay mượn làm tôi thấy thật sự áy náy với cái blog tội nghiệp của mình. Còn nhớ cái thời Yahoo360, tôi đã viết thật nhiều bài cảm nhận cho những ca khúc mà tôi đã nghe. Nhớ lắm cái cảm xúc mãnh liệt của tuổi trẻ khi bắt gặp những giai điệu khi sôi nổi lúc nhẹ nhàng, những tổ hợp âm thanh ấy cứ âm thầm thẩm thấu vào lòng để rồi tôi phải bật dậy ngay trong đêm đen để viết ra cho bằng hết tất cả những cảm-xúc-không-thể-không-diễn-tả-thành-lời ấy trước khi nó kịp tan biến trước những áp lực, lo toan vô hình của cuộc sống khi những tia nắng gọi bình minh của ngày hôm sau vừa ló dạng.

Kể ra cũng hơn một chục năm rồi, nhưng cái cách tôi nghe nhạc so với ngày xưa vẫn không thay đổi. Đêm về, trong không gian tối đen và mượt như nhung ấy tôi lại thấy rõ con người và cảm xúc của mình hơn đến nỗi nhiều khi tôi cảm giác mình có thể chạm vào nó, nó hữu hình và rất thật. Và khi ấy những giai điệu dễ dàng luồn lách vào sâu tận ngõ ngách tâm hồn tôi hơn. Đóng và khoá trái cửa phòng, cúp điện, play và cho playback một bài và chỉ duy nhất 1 bài, sau đó nằm duỗi thẳng toàn thân trên giường. Nhắm mắt lại, nghe, và cảm nhận. Đêm qua, tôi lại làm điều này với: While Your Lips Are Still Red của NightWish.

Khi nghe bài này, một câu hỏi của Eminem trong ca khúc “Lose Yourself” cứ luẩn quẩn trong đầu tôi:

Look, if you had, one shot, or one opportunity
To seize everything you ever wanted. In one moment
Would you capture it, or just let it slip?

Nếu bạn chỉ có mội cơ hội, chỉ một cơ hội duy nhất để theo đuổi với hy vọng có được những thứ mà bạn muốn. Bạn sẽ nắm lấy cơ hội đó, hay để nó trôi qua? Tôi tin chắc 100% câu trả lời sẽ là “Có” bởi không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông. Những cơ hội cứ đến rồi lại đi, cũng vô tình như thời gian, chúng không bao giờ quay trở lại. Có thể sẽ có những người sẽ đến, đi ngang đời bạn, rồi đi mãi nếu bạn không biết nắm giữ.

Sweet little words made for silence not talk
Young heart for love not heartache
Dark hair for catching the wind
Not to veil the sight of a cold world

Trong tình yêu, lời nói đôi khi không phải là tất cả bởi có những điều vi diệu mà lời nói dù tinh tế đến mấy cũng đành bất lực trong việc diễn tả. Và đó là khi mà trái tim lên tiếng.

Có những tình yêu đến thật nhẹ nhàng và đầy tình cờ. Tình yêu ấy tinh khiết như những giọt sương mai, không vướng chút bụi trần của những toan tính và vụ lợi. Tại nơi ấy, hai tâm hồn đồng điệu cảm nhận được những giai điệu nồng ấm từ trong sâu thẳm trái tim nhau. Lai có những tình yêu lại đem đến nhiều uẩn khúc trong lòng bởi cả hai đều biết sẽ không có một tương lai trọn vẹn bên nhau. Họ dù thấy trước một tương lai xa cách, nhưng họ vẫn cứ yêu, vẫn cứ sống hết mình cho ngày hôm nay để tuổi trẻ mãi là một thời tuy nông nổi nhưng không có gì để nuối tiếc. Hãy cứ yêu thôi, cần gì là mãi mãi. Chỉ cần giờ này, phút này, giây này: Ta-Là-Của-Nhau-Một-Cách-Trọn-Vẹn.

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

Vậy thì hãy hôn nhau đi khi đôi môi hãy còn thắm đỏ. Hãy yêu đi khi bầu ngực trinh nguyên ấy đang căng tràn cảm xúc mãnh liệt của yêu đương. Hãy nắm chặt lấy tay nhau để cảm nhận được hơi ấm khi bàn tay ấy chưa chất chứa những cám dỗ, muộn phiền; để rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau khi hai bờ mi vẫn đang khép chặt mơ màng trong khúc hoan ca của mối tình bất diệt mặc cho tạo hoá xoay vần, mặc cho phong vân chuyển sắc, mặc cho tang hải thương điền, mặc cho ngày mai sẽ cuốn tình ta đi về đâu.

First day of love never comes back
A passionate hour’s never a wasted one
The violin, the poet’s hand
Every thawing heart plays your theme with care

Giờ đây khi bất chợt đưa tay lên mái tóc nhung huyền ngày nào, ta chợt nhận ra dấu tích rõ ràng của những hạt bụi thời gian. Tuổi xuân đã qua, tình yêu thuở ban đầu đã qua sẽ không bao giờ trở lại được cho dù ta có tìm mọi cách để níu giữ bởi chiếc đồng hồ thời gian vô tình ấy nào có chạy ngược bao giờ! Nhưng rồi khi ngồi lật giở từng trang kỉ niệm đầy sắc màu trong cuốn sổ kí ức thì anh ấy, cô ấy có thể nhớ về nó với một nụ cười đầy mãn nguyện bởi họ đã sống không hoài phí.

Có một tác giả đã nói “Nếu nói tuổi trẻ hồ đồ là sai thì nỗi cô đơn trong những năm dài đằng đẵng sau này là cái giá phải trả.”. Bạn có muốn sau này phải sống trong nỗi cô đơn để trả giá cho những tháng năm tuổi trẻ sống hoài, sống phí không? Vậy thì hãy:

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

—————————

Sweet little words made for silence not talk
Young heart for love not heartache
Dark hair for catching the wind
Not to veil the sight of a cold world
Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

First day of love never comes back
A passionate hour’s never a wasted one
The violin, the poet’s hand
Every thawing heart plays your theme with care
Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

———–

Những lời ngọt ngào nhất thường được cảm nhận từ sự im lặng
Nơi trái tim non nớt cháy hết mình cho một tình yêu không muộn phiền
Mái tóc em nhung huyền tung bay đón gió
Vẫn không che đậy được một khung trời lạnh lẽo của thực tại
Vậy thì hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa

Tình yêu thuở ban đầu sẽ không bao giờ quay lại
Những giây phút đam mê sẽ chẳng bao giờ là phí hoài
Tiếng vĩ cầm như đan vào bàn tay tài hoa của một nhà thơ
Trái tim như tan chảy quyện vào những giai điệu ấm nồng
Vậy thì hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa

Hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa


(© VNese lyrics by me)

1 Comment

Đại Sứ Quán Việt Nam ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

1. Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ
Head: Tôn Sinh Thành
Address
: 20 Kautilya Marg, Chanakya Puri, New Delhi – 110021
Telephone: +91 11 26879852/ 55
Fax: + 91 11 26879856 (Chancery); 26879869 (Consular)
Email: vnemb.in@gmail.com (Chancery); vnconsul.indelhi@yahoo.in (Consular)
Working Hours: Monday to Friday, 9:00 A.M to 13:00 A.M and 02:00 P.M to 06:00 P.M

2. Đại sứ quán Việt Nam tại Bangladesh
Head: Nguyễn Quang Thức
Address
: No.14 C.W.S(B) Road 33/24, Gulshan Model Town, Dhaka 1212, Bangladesh
Telephone: +88-02-9854052
Fax: +88-02-9854051
Email: dhaka@mofa.gov.vn
Working Hours: N/A

3. Đại sứ quán Việt Nam tại Bruney
Head: Nguyễn Trường Giang
Address
: No 9,Spg 148-3 jalan Telanai BA 2312,BSB
Telephone: 2651580
Fax: 2651574
Email: vnembassy@yahoo.com
Working Hours: N/A

4. Đại sứ quán Việt Nam tại Cambodia
Head: Thạch Dư
Address
: 436 Monivong Blvd., Khan Chamcarmon, Phnom Penh
Telephone: (855) 23 726 284
Fax: (855) 2372 6273
Email: vnembassy03@yahoo.com; vnembpnh@online.com.kh
Working Hours: N/A

5. Đại sứ quán Việt Nam tại Đại Hàn Dân Quốc
Head: Phạm Hữu Chí
Address
: 123 Bukchon-ro, Jongno-gu, Seoul, Korea 110-230
Telephone: 720.5124; 725.2487
Fax: 720.4684; 739.2064
Email: vndsq@yahoo.com
Working Hours: N/A

6. Đại sứ quán Việt Nam tại Indonesia
Head: Nguyễn Xuân Thủy
Address
: Jl. Teuku Umar. No 25, Jakarta Pusat, Jakarta
Telephone: 3100358
Fax: 3149615
Email: jakarta@mofa.gov.vn; vietnamemb@yahoo.com
Working Hours: N/A

7. Đại sứ quán Việt Nam tại Kazakhstan
Head: Nguyễn Văn Hòa
Address
: 19B, phố Zhylyoi, Karaotkel 2, thành phố Astana, Kazakhstan
Telephone: + 7 (7172) 26 61 62
Fax: + 7 (7172) 26 61 67
Email: vnemb.kz@mofa.gov.vn; vnemb.kz09@yahoo.com
Working Hours: N/A

8. Đại sứ quán Việt Nam tại Lào
Head: Nguyễn Mạnh Hùng
Address
: No 85, 23 Singha Road, Ban Phonxay, Saysettha District, Vientiane Capital
Telephone: (856-21) 990994
Fax: (856-21) 413379
Email: vnemba.la@gmail.com
Working Hours: N/A

9. Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia
Head: Phạm Cao Phong
Address
: No.4 Persiaran Stonor, 50450 Kuala Lumpur
Telephone: (+60) 3 2148 4858
Fax: (+60) 3 2148 3270
Email: vnemb.my@mofa.gov.vn
Working Hours: N/A

10. Đại sứ quán Việt Nam tại Myanma
Head: Phạm Thanh Dũng
Address
: Toà nhà số 70-72, Đường Than Lwin, Quận Bahan, Thành phố Yangon.
Telephone: + 95-1- 511305
Fax: + 95-1- 514897
Email: vnembmyr2012@gmail.com
Working Hours: Thứ Hai đến thứ Sáu: 08.00 – 12.00; 14.00 – 17.00

11. Đại sứ quán Việt Nam tại Mông Cổ
Head: Phan Đăng Đương
Address
: Enkhtaivny Urgun Chuluu – 47, Ulanbator, Mông Cổ
Telephone: (11) 454 632
Fax: (11) 458 923
Email: dsq.ulanbator@gmail.com; ulanbator@mofa.gov.vn
Working Hours: N/A

12. Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản
Head: Đoàn Xuân Hưng
Address
: Tokyo, 151-0062, Shibuya-ku, Motoyoyogi-cho, 50-11
Telephone: (813) 3466-3313; 3466-3314; 3466-3311
Fax: (813) 3466-3391; 3466-7652; 3466-3312
Email: vnembasy@blue.ocn.ne.jp
Working Hours: Sáng từ 09:00 – 12:00; Chiều từ 14:00 – 17:00

13. Đại sứ quán Việt Nam tại New Zealand
Head: Nguyễn Việt Dũng
Address
: Level 21 Grand Plimmer Tower, 2-6 Gilmer Terrace, Wellington 6011
Telephone: 64 – 4 – 473 5912
Fax: 64 – 4 – 473 5913
Email: embassyvn@clear.net.nz
Working Hours: N/A

14. Đại sứ quán Việt Nam tại Australia
Head: Lương Thanh Nghị
Address
: Chancery: 6 Timbarra Crescent O’Malley ACT 2606
Telephone: (61-2) 6286 6059; 6290 1556; 6290 1894; 6286 6267
Fax: 61-2-6286 4534
Email: vembassy@webone.com.au
Working Hours: N/A

15. Đại sứ quán Việt Nam tại Pakistan
Head: Nguyễn Xuân Lưu
Address
: Số nhà 117, Phố 11, Khu E-7, Islamabad, Pakistan
Telephone: 00 92 51 2655785/2655787
Fax: 00 92 51 2655783
Email: vnemb.pakistan@yahoo.com
Working Hours: N/A

16. Đại sứ quán Việt Nam tại Philippin
Head: Trương Triều Dương
Address
: 670 Pablo Ocampo St. (formerly Vito Cruz), Malate, Manila, the Philippines
Telephone: + (632) 5216843
Fax: + (632) 5260472
Email: vnemb.ph.info@mofa.gov.vn; vnembph@yahoo.com 
Working Hours: N/A

17. Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan
Head: Nguyễn Tất Thành
Address
: 83/1 Wireless Road, Lumpini, Pathumwan, Bangkok 10330, Thailand
Telephone: (+66 ) 22515838; (+66) 22517202
Fax: +66 (0) 2 251 7201; +66 (0) 2 251 7203
Email: vnemb.th@mofa.gov.vn
Working Hours: thứ 2 đến thứ 6; Sáng: 08:30-12:00; Chiều: 14:00- 17:30

18. Đại sứ quán Việt Nam tại CHDCND Triều Tiên
Head: Phạm Việt Hùng
Address
: số 07 phố Munsu, Bình Nhưỡng
Telephone: 00-84- (0) 99-274-0044 (Ngoài giờ: 00-850-191-2500-156)
Fax: 00-84- (0) 99-274-0039
Email: vnembassydprk@mofa.gov.vn
Working Hours: thứ 2 đến thứ 6; Sáng: 08:30-12:30; Chiều: 14:00- 17:30

19. Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Hoa
Head: Nguyễn Văn Thơ
Address
: Số 32 đường Quang Hoa, Kiến Quốc Môn Ngoại, TP Bắc Kinh
(Beijing, Jian Guo Men Wai, Guang Hua Lu, No32), Post Code 100600
Telephone: (0086-10) 6532 1155
Fax: (0086-10) 6532 4215
Email: dsqbk1@yahoo.com
Working Hours: N/A

20. Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore
Head: Nguyễn Tiến Minh
Address
: 10 Leedon Park, Singapore 267887
Telephone: 64625938 (Văn Phòng)
Fax: 64689863 (Văn phòng)
Email: vnemb@singnet.com.sg ; vnemb.sg@mofa.gov.vn
Working Hours: Thứ Hai đến thứ Sáu; 8.30 am – 12.30 pm; 2.30 pm – 5.30 pm

21. Đại sứ quán Việt Nam tại Sri Lanka
Head: Phan Kiều Thu
Address
: Số 30/5, Ward Place, Colombo – 7
Telephone: 0094 – 11 – 2696050
Fax: 0094 – 11 – 2692040
Email: vnemb-srilanka@mofa.gov.vn
Working Hours: Thứ Hai đến thứ Sáu

Leave a comment

T.T.Kh, thi sĩ bí ẩn bậc nhất thi đàn Việt Nam

Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Tigôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.


Bí mật tiểu sử T.T.KH, tác giả của “Hai Sắc Hoa Tigôn” và Các Bài Thơ Khác

Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Tigôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.

Sau đó không lâu, toà soạn gặp được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ Hai Sắc Hoa Tigôn, dưới ký tên T.T.Kh.. Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kia. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Câu chuyện “Hoa Tigôn” đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới giàn hoa Tigôn. Rồi chàng ra đi, nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải tỏa niềm tâm sự.

Trong “Hai Sắc Hoa Tigôn” tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, tòa soạn “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh.. Đó là các bài Bài Thơ Thứ Nhất, Bài Thơ Đan Áo (riêng đăng ở Phụ Nữ Thời Đàm) và Bài Thơ Cuối Cùng.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh. nữa và không hiểu tại sao bài “Hai Sắc Hoa TiGôn” lại xuất hiện trước “Bài Thơ Thứ Nhất.”

Từ lúc T.T. Kh. góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người ta đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T.Kh.. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thị Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà Nội. Có kẻ cho cô là người yêu của thi sĩ Thanh Tâm, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hóa hay thi vị hóa một mối tình tưởng tượng. Rồi ký giả Thanh Châu, các thi sĩ Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng.

Về hoa Tigôn (Antigone in French): loại hoa dây leo, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh. Hoa Tigôn rất đẹp, có hai loại: loại cho ra hoa mầu trắng và loại cho ra hoa mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi VN. Lá Tigôn mầu xanh, hình tim như lá trầu nhưng nhỏ cỡ 3 ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm. Hoa Tigôn có 5 cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và 3 cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoài. Khi gặp gió hay mưa hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống đất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rời ra tơi tả như T.T.Kh. mô tả trong thơ của bà. Ở miền Nam Việt Nam gọi là hoa nho vì lá giống lá nho. Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua những sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ……..

Như đã thấy “Bài Thơ Cuối Cùng” xuất hiện vào giữa năm 1938, trong đó T.T.Kh. giận trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báo làm lộ chuyện thầm kín cho khắp người đời thóc mách xem thì không còn thấy xuất hiện bài thơ nào khác của nàng nữa.

Mãi tới 2 năm sau, vào giữa 1940, mới thấy xuất hiện bài thơ gửi T.T.Kh. với bút hiệu Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1917-194, có lẽ là ông ở xa vừa mới về. Ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh., gọi nàng bằng tên “Khánh” và nhắc tên nầy tổng cộng 4 lần. Bài thơ nầy là để trả lời cho 4 bài thơ của nàng, nhưng với giọng điệu cay đắng, mỉa mai!

Ngoài ra Thâm Tâm còn 2 bài thơ khác viết cho T.T.Kh. như sau: Màu Máu Tigôn, Dang Dở

Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho T.T.Kh. xuất hiện trong năm 1940. Bài thơ “Dang Dở” trên đã chấm dứt mối tình bí mật đó. Nhưng…

Sau đó, người ta lại được biết chút ít về T.T.Kh. qua bài thơ “Dòng Dư Lệ” của Nguyễn Bính. Lúc bấy giờ ai chẳng nghĩ T.T.Kh. chính là người tình vườn Thanh của Nguyễn Bính. Nhưng đó chỉ là sự ngộ nhận của một kẻ si thơ T.T.Kh. mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Bính lúc còn trẻ có máu “giang hồ”, vào Nam ra Bắc mấy lần. Một lần dong ruổi, gặp đêm mưa lớn, ông ghé vào trọ tại một nhà ở vùng Thanh Hóa, được người lão bộc tiếp đãi. Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ ngồi quay tơ – mà ông gọi là “Người Vườn Thanh” – đã khiến ông run động, thao thức bâng quơ; nhưng nghĩ mình còn nặng kiếp phong trần nên chưa dám tính đến chuyện tình duyên.

Rồi mấy năm sau, ông lại có dịp qua vùng Thanh Hóa, bèn tìm đến chốn cũ, thì được người lão bộc năm xưa kể cho nghe “một thiên hận tình.” Thời gian lại qua đi, ông gần như đã quên câu chuyện đó, thì đọc được những bài thơ của T.T.Kh. xuất hiện trên báo. Ông thấy những bài thơ đó giống hệt thiên hận tình của “Người Vườn Thanh” năm nào, ông nghĩ rằng “Người Vườn Thanh” chính là T.T.Kh., và viết bài thơ “Dòng Dư Lệ” để tặng nàng.

Mặc dầu xôn xao bàn tán và tranh dành lấy mình và lấy thơ của mình, T.T.Kh. đã biến mất. Cho đến mùa xuân năm 1938 ngày 30 tháng 10 thì trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại xuất hiện T.T.Kh. với Bài Thơ Cuối Cùng. Đó là bốn bài thơ mà T.T.Kh. đã để lại trong lòng tất cả người yêu thơ của bà. Cho đến thập kỷ 80, vẫn có người noí rằng bà còn sống và đã gặp bà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một lời nói mà thôi.

Vậy T.T.Kh. nàng là ai??? Và vì ai mà làm thơ??? Cái nghi vấn đã kéo dài hơn 50 năm cho đến năm 1994. Bà Đ.T.L (tạm dấu tên) đã tiết lộ cái mà thiên hạ cho là “thiên cơ bất khả tiết lộ” cho nhà văn Thế Nhật, và đó cũng là cái chìa khóa để mở cái cửa nghi vấn cho làng văn học Việt Nam.

T.T.Kh là gì?
T chữ thứ nhất là TRẦN
T chữ thứ hai là THANH
Kh chữ thứ ba là KHÓC

KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đời. Tạo hóa trớ trêu khiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

THANH là Thanh Châu, là tác giả của truyện ngắn”Hoa Tigôn” đã nhắc ở trên. Ông hiện cư ngụ tại Hà Nội, là người đã tạo cho T.T.Kh. những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khóc thương. Người đã mang nặng chữ chung thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ T.T.Kh., với cái hồn của nàng suốt hơn 50 năm trời đăng đẵng. Một người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách trớ trêu của tạo hóa, nhưng lại mềm mại, đắng cay trong từng ngòi bút ông buông lời

TRẦN là Trần Thị Chung, (tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung) sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hóa, Hà Nộị sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ. Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho một luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo học tập). Hiện nay bà cùng các con sinh sống ở miền Nam nước Pháp trong một thị xã nhỏ và bà vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu khác khau như Vân Nương, Tơ Sương v.v…

Hai Sắc Hoa Ti Gôn
                             T.T.Kh

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít giây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm!
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẻo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.

Đan Áo Cho Chồng
                               T.T.Kh

“Chị ơi! Nếu chị đã yêu.
Đã từng lỡ hát ít nhiều đau thương,
Đã xa hẳn quãng đường hương,
Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,
Đáng thương những kẻ có chồng như em,
Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.

Như con chim hót trong lồng,
Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.
Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan…

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim nhốt trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao !

Ngoài trời mưa gió xôn xao,
Ai đem khóa chết chim vào lông nghiêm ?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời…

Lòng em khổ lắm chị ơi !
Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.
Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!”

Bài Thơ Thứ Nhất
                             T.T.Kh

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương…
Nhưng mà nghệ sĩ từ đâu lại,
Êm ái trao tôi một vết thương.
Tai ác ngờ đâu gió lạ qua,
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn Người đi bến cát xa
Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác,
– Gió hỡi! làm sao lạnh rất nhiều ?
Từ đấy không mong, không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,
Người ấy ghi lòng :”vẫn nhớ em !”
Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt lòng dư lệ
Rỏ xuống thành thi khóc chút duyên ?
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ…
Thì ai trông ngóng, chả nên chờ !
Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa :
– “Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ !”
Tôi run sợ viết; lặng im nghe
Tiếng lá thu khô siết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến.
– Song đời nào dám găp ai về!
Tuy thế, tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi
Biết đâụ..tôi : một tâm hồn héo,
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!

Bài Thơ Cuối Cùng
                               T.T.Kh

Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ, một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em dã câm lời, có nói đâu !

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh “ty-gôn” ấy,
Mà viết tình em, được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ “đan áo” của chồng em.
Bài thơ “đan áo” nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy, biết không ?
….Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương : điệu cuối cùng !

Từ đây, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơị..
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời !

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôị..chết
Đêm hỡi ! làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh ? anh của em !

Tôi biết làm sao được hỡi trời ?
Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi !
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt…
Sợ quá đi, anh…”có một người” !…

Sưu tầm: Nguyễn Bửu Em

Leave a comment

Jack Ma: If You’re Poor At 35, You Deserve It

You are poor because you have no ambition.

Jack Ma: Before I founded Alibaba, I invited 24 friends to my house to discuss the business opportunity. After discussing for a full two hours, they were still confused — I have to say that I may not have put myself across in a clear manner manner then. The verdict: 23 out of the 24 people in the room told me to drop the idea, for a multitude of reasons, such as: ‘you do not know anything about the internet, and more prominently, you do not have the start-up capital for this’ etc etc.

There was only one friend (who was working in a bank then) who told me, “If you want to do it, just try it. If things don’t work out the way you expected it to, you can always revert back to what you were doing before.” I pondered upon this for one night, and by the next morning, I decided I would do it anyway, even if all of the 24 people opposed the idea.

Jack Ma founding members

When I first started Alibaba, I was immediately met with strong opposition from family and friends. Looking back, I realized that the biggest driving force for me then was not my confidence in the Internet and the potential it held, but more of this:  “No matter what one does, regardless of failure or success, the experience is a form of success in itself.” You have got to keep trying, and if it doesn’t work, you always can revert back to what you were doing before.

As with this quote by T.E. Lawrence – “All men dream: but not equally. Those who dream in the dark recesses of the night awake in the day to find all was vanity. But the dreamers of day are dangerous men, for they may act their dreams with open eyes, and make it possible.”

jack ma serious

Jack Ma: People lose out in life because of these 4 reasons:

  1. Being myopic to opportunity
  2. Looking down on opportunities
  3. Lacking understanding
  4. Failing to act quickly enough

You are poor, because you have no ambition.

Ambition is living a life of great ideals; a magnificent goal in life that must be realized.

In this world, there are things that are deemed unfathomable, but there is nothing in this world that cannot be done. The depth of one’s ambition determines the potential of one’ future.

By way of example:

The Story of Juliet Wu Shihong – one of China’s first-generation professional managers, who gained success by working her way up the ranks from a cleaner, a nurse, a marketing executive, through self-education and learning on the job.

Juliet Wu ShihongShe had been the general manager for the world’s most famous multinational IT groups’ Chinese branches (Microsoft 1985-1998; IBM 1998-1999). She is also China’s first successful international corporate executive to join the executive team of a domestic private firm. Wu was seen as a symbol of the new generation of business executives that China has produced in its economic reform and opening-up.

When Wu started off in a big company working from the lowest ranks, her daily job was to pour tea and sweep floors. Once, because she forgot her staff pass, the company’s guard stopped her at the door and denied her entry. She explained to the guard that she was indeed one of the company’s employees, and that she had merely left the building for a short while to purchase office supplies.

Despite her pleas, the guard still did not allow to enter. As she stood at the gate, she watched as those of similar age to her, but smartly dressed in business attire walking through without having to show their passes.

She asked the guard, “Why are these people allowed through without producing a pass?” The guard dismissed her coldly nonetheless.

That was the turning point for Wu – she felt great shame, her self-esteem trampled on.

She looked at herself, dressed in shabby clothes and pushing a dirty push cart. Looking back at those dressed in smart attire, her heart felt a deep ache from the sudden realization of the sorrow and grief from being discriminated. From that moment, she vowed never to allow herself to be shamed like this again, and to become world-famous.

Since then, she used every opportunity to enrich herself. Every day, she was the first to arrive at work, and the last one to leave. She made every second count, spending her time learning the ropes. Her efforts soon paid off; she was made a sales representative, and quickly progressed to being the regional general manager of this multinational company in China. Wu did not possess strong academic qualifications, and was revered as the ‘Queen of Part-timers’. Subsequently, she assumed the position of GM of IBM China. This is the Wu Shihong, the heroine in China’s business circle.

Juliet Wu ShihongIf not for the incident, Wu Shihong would not have had the ambition to become rich, and her life would have taken a very different path then.

Lessons…

  • You are poor because you do not have the desire to become successful.
  • You are poor because you lack foresight.
  • You are poor because you cannot overcome your cowardice.
  • You are poor because you lack the courage and determination.
  • With ambition you can overcome all inferiority and maximize your potential!
  • With ambition you can persevere, continuously learn new things and strive for perfection.
  • With ambition you can defy all odds, and create miracles when others daren’t.

No matter how poor your family is, do not doubt your own abilities and lose sight of your ambition.

  • When your family deems you worthless, no one will pity you.
  • When your parents do not have money to pay the medical bills, no one will pity you.
  • When you are beaten by your competitors, no one will pity you.
  • When your loved ones abandon you, no one will pity you.
  • When you have not accomplished anything by the time you are 35, no one will pity you.

Go big, or go home. Otherwise, you’re wasting your youth.

1 Comment

14 điều người giàu nghĩ khác người thường

Người nghèo thích hoài niệm về quá khứ, mơ trúng số trong tương lai và mê đọc báo lá cải. Trong khi người giàu không ngừng hành động, bắt đam mê đẻ ra tiền và tìm được sự thanh thản nhờ tiền bạc.

Người phụ nữ giàu nhất thế giới Gina Rinehart từng gây xôn xao dư luận sau phát biểu của mình, cho rằng những ai đang ghen tị với khối tài sản của bà nên ngừng “uống rượu, hút thuốc và đàn đúm” để làm việc khác có ích cho tương lai của mình.

Steve Siebold – tác giả của cuốn sách “Người giàu nghĩ thế nào”, cho rằng quan điểm của bà Gina Rinehart cũng đáng được lưu tâm. Ông đã dành gần 3 thập niên để phỏng vấn nhiều triệu phú vòng quanh thế giới để tìm hiểu xem điều phân biệt họ với những người còn lại là gì. Ông phát hiện ra rằng điểm khác giữa người giàu và người nghèo không phải ở tiền bạc, mà là cách nghĩ.

Sau đây là 14 điều đáng chú ý nhất trong cuốn sách của Steve Siebold:

nguoi-giau-2-3030-1396264496.jpg

1. Người nghèo nghĩ tiền là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Người giàu nghĩ rằng đói nghèo là nguồn gốc của mọi tội lỗi.

“Hầu hết những người có tài sản trung bình cho rằng người giàu thật may mắn và không thật thà”, Siebold viết trong cuốn sách. Đó là lý do trong cộng đồng những người có thu nhập thấp, khái niệm “giàu lên” đi cùng với nỗi xấu hổ. Trong khi đó, tầng lớp giàu có cho rằng tiền bạc không đảm bảo hạnh phúc, nó chỉ giúp cuộc sống trở nên dễ dàng và mang tính tận hưởng.

2. Người nghèo thường nghĩ rằng sự ích kỷ là thói xấu xa. Còn người giàu nghĩ đó là một món quà.

“Người giàu đi đây đó và tìm cách làm cho bản thân họ cảm thấy vui vẻ. Họ không cần phải giả vờ đang đi cứu cả thế giới”, Siebold nói. Vấn đề là người nghèo thấy việc này thật tiêu cực, và xem đây là nguyên nhân khiến họ tiếp tục nghèo, tác giả viết trong cuốn sách. “Nếu bạn không quan tâm đến chính bản thân bạn, bạn không thể giúp ai khác. Bạn không thể cho người khác thứ mà bạn không có”, ông viết tiếp.

3. Người nghèo mơ về việc trúng số. Người giàu mơ về việc hành động.

“Trong khi số đông đại chúng chờ đến ngày trúng số và cầu mong thịnh vượng, thì những cá nhân xuất sắc tìm cách giải quyết vấn đề của mình”, Siebold viết, “Phần lớn người nghèo đang chờ đợi Chúa, chính phủ, ông chủ hoặc người bạn đời giàu có. Nhưng trong khi họ tiếp tục có những suy nghĩ đó thì đồng hồ vẫn đang tiếp tục chạy, thời giờ ngày một trôi qua”.

4. Người nghèo nghĩ rằng đường đến ngày giàu có được trải thảm bởi nền giáo dục chính thống. Người giàu tin vào sự lĩnh hội những kiến thức cụ thể.

Nhiều người giàu xuất chúng không được hưởng nền giáo dục chính quy. Họ tích lũy khối tài sản thông qua quá trình lĩnh hội nhiều loại kiến thức. Trong khi đó, phần đông tầng lớp nghèo hơn cho rằng bằng Cử nhân, Tiến sĩ mới là con đường làm giàu, chủ yếu vì họ bị kìm kẹp trong lằn ranh suy nghĩ cản trở họ đạt đến mức ý thức cao hơn. Người giàu không quan tâm đến phương thức, chỉ quan tâm đến kết quả.

5. Người nghèo luôn hoài niệm về những ngày đẹp đẽ trong quá khứ. Người giàu mơ về tương lai.

“Những triệu phú làm giàu từ hai bàn tay trắng phất lên nhờ họ luôn đặt cược vào bản thân và tự tay thiết kế giấc mơ, mục tiêu và ý tưởng của mình trong một tương lai lâu dài, Siebold viết, “Còn người nào tin rằng những ngày đẹp đẽ nhất của họ là ngày hôm qua sẽ hiếm khi giàu lên, và thường phải đấu tranh với sự bất hạnh hay nỗi thất vọng trong hiện tại.

6. Người nghèo kiếm tiền bằng cách làm những thứ họ không thích. Người giàu theo đuổi đam mê.

“Với những người thông thường, họ nghĩ rằng người giàu khi nào cũng làm việc”, Siebold nói. “Nhưng một trong những phương pháp thông minh nhất của người giàu là làm thứ họ thích và tìm ra cách để được trả tiền vì điều nó”, ông nói tiếp. Trong khi đó, tầng lớp trung lưu làm những công việc họ không thích vì họ cần tiền và vì họ được dạy ở trường để làm điều đó. Ngoài ra, họ cũng sống trong một xã hội luôn nói rằng kiếm tiền đi liền với nỗ lực về mặt tinh thần và thể chất.

7. Người nghèo đặt ra các kỳ vọng nhỏ để không bị thất vọng. Người giàu không ngại thử thách.

“Các nhà tâm lý, tâm thần học luôn khuyên người ta nên đặt ra các mục tiêu nhỏ trong cuộc đời để đảm bảo rằng họ sẽ không rơi vào trạng thái thất vọng”, Siebold nói. Trong khi đó, theo những gì ông khảo sát được. không ai vươn đến mục tiêu giàu có và sống cuộc đời như mơ mà không phải trải qua những ngày đặt ra các kỳ vọng khổng lồ.

8. Người nghèo nghĩ rằng họ phải làm gì đó để trở nên giàu có. Người giàu nghĩ về việc làm gì để trở nên giàu có.

“Đó là lý do những người như Donald Trump đi từ triệu phú thành con nợ 9 tỷ USD và sau đó trở nên giàu có hơn bao giờ hết”, tác giả viết.

“Trong khi số đông đang đắm đuối với việc làm để tận hưởng kết quả ngay lập tức của những gì họ làm, những cá nhân xuất chúng đang học hỏi và phát triển từ mọi kinh nghiệm mà họ có, dù đó là thành công hay thất bại. Họ biết rằng phần thưởng thật sự là trở thành một cá nhân thành công và cuối cùng thì họ sẽ có được những kết quả rực rỡ nhất.

9. Người nghèo tin rằng họ cần có tiền để làm ra tiền. Người giàu dùng tiền của người khác.

Suy nghĩ truyền thống khiến người ta tin rằng cần kiếm được tiền mới có thể có vốn để kiếm tiền tiếp. Nhưng Siebold tin rằng người giàu không ngại đầu tư cho tương lai của mình bằng tiền lấy từ túi người khác. “Người giàu cho rằng câu nói không đủ tiền để mua gì đó là không thích hợp. Câu hỏi thực sự là: “Cái này có đáng mua, đáng đầu tư hay theo đuổi hay không”, tác giả viết tiếp.

nguoi-giau-8561-1396264496.jpg

10. Người nghèo tin rằng thị trường được vận hành bởi logic và phương pháp. Người giàu biết rằng chúng được vận hành bởi cảm xúc và lòng tham.

Đầu tư thành công trong thị trường chứng khoán không chỉ là vấn đề thuộc lòng công thức toán học. “Người giàu biết rằng thứ đang dẫn dắt thị trường tài chính là nỗi sợ hãi và lòng tham. Họ áp dụng công thức này vào mọi giao dịch”, Siebold viết. Nhờ am hiểu về bản chất con người và những ảnh hưởng của chúng trên thị trường giao dịch khiến họ ngày một giàu thêm.

11. Người nghèo để tiền bạc làm họ bị stress. Người giàu tìm được sự thanh thản trong tâm hồn nhờ tiền bạc.

Lý do người giàu có thể càng kiếm được nhiều tiền nhờ việc họ không ngại thừa nhận rằng tiền có thể giải quyết được hầu hết mọi vấn đề, tác giả của quyển sách nói. “Còn tầng lớp thông thường xem tiền bạc như là cái xấu không bao giờ chấm dứt mà họ phải chấp nhận là một phần của cuộc sống. Người giàu xem tiền là phương tiện cứu rỗi, mà nếu có đủ, họ sẽ mua được sự thanh thản trong tâm hồn về mặt tài chính.

12. Người nghèo thích được giải trí hơn là được giáo dục. Người giàu thích giáo dục hơn giải trí.

Dù nhiều người giàu xuất chúng không trải qua trường lớp đào tạo chính quy, họ vẫn rất coi trọng sức mạnh của việc học tập lâu dài, không chỉ trong trường đại học, Siebold viết. “Bước chân vào nhà của một người giàu có, một trong những thứ đầu tiên bạn nhìn thấy là một thư viện cỡ lớn chứa đầy sách”, tác giả viết. “Trong khi đó, tầng lớp trung lưu đọc tiểu thuyết, báo lá cải và các tạp chí giải trí”. ông viết tiếp.

13. Người nghèo nghĩ rằng người giàu là những kẻ hợm hĩnh. Người giàu chỉ muốn kết giao với những người có tư tưởng giống mình.

Suy nghĩ tiêu cực về tiền bạc vốn đầu độc người nghèo chính là lý do khiến người giàu chỉ kết giao với người giàu, tác giả viết. Người giàu không thể hiểu được thông điệp của sự bất hạnh và não nề. Số đông lại xem đây là biểu hiện của thói hợm hĩnh. Và khi gán cho những người siêu giàu cái mác hợm hĩnh, tầng lớp trung lưu trở xuống cảm thấy hài lòng hơn về bản thân mình, và về con đường “xoàng xĩnh” mà họ đã chọn.

14. Người nghèo tập trung vào tiết kiệm. Người giàu tập trung kiếm tiền.

Siebold khái quát rằng người giàu tập trung vào những gì họ có thể đạt được bằng cách sẵn sàng mạo hiểm, hơn là tìm cách giữ chặt những gì họ có. “Số đông mọi người quá tập trung vào việc cóp nhặt các coupon giảm giá và sống khổ hạnh, vì thế họ bỏ lỡ nhiều cơ hội lớn trong cuộc đời”, ông viết.

“Ngay cả giữa cuộc khủng hoảng dòng tiền như hiện nay, người giàu vẫn từ chối lối suy nghĩ thắt chặt của số đông. Họ là bậc thầy của việc tập trung năng lượng tinh thần vào nơi nên tập trung: Những cục tiền lớn.

(Business Insider)

Leave a comment

Kim Ung Yong – Người từ chối định mệnh thiên tài

Sau những thành công phi phàm đến từ quá sớm, ông đã lựa chọn một cuộc sống khác so với kỳ vọng của mọi người. Chỉ vì thế, ông bị gọi là “thiên tài thất bại”, bất chấp lựa chọn đó là hạnh phúc của ông.

Cậu bé phi phàm nhất thế giới

Kim Ung-Yong, sinh năm 1962 tại Hàn Quốc, là con trai cả trong gia đình có năm người con. Bố ông là giáo sư vật lý ở trường đại học Geonguk, trong khi mẹ ông là giáo sư y khoa ở Đại học Nữ Ewha.

Không chỉ xuất sắc trên đường học vấn, bố mẹ Kim còn có điểm chung là cùng sinh vào một thời điểm: 11h00′ ngày 23/5/1934. Với chi tiết trùng hợp kỳ lạ mà có người vẫn hoài nghi về tính huyền thoại của nó này, nhiều người cho rằng chính sự đặc biệt ấy đã giúp ông bà sinh ra một thần đồng.

Kim bắt đầu biết nói từ lúc 2 tháng tuổi, biết trò chuyện và biết đi từ khi mới 6 tháng tuổi và mọc 19 cái răng chỉ trong một ngày khi mới tròn 100 ngày tuổi. Khi 2 tuổi 4 tháng, Kim bắt đầu có nhật ký riêng, lưu giữ những ý nghĩ của cậu về những đám mây bên ngoài ngôi nhà của mình, về triết học và về sự mất kiên nhẫn của cậu về đám đông hiếu kỳ tò mò tới nhà xem cậu bé kỳ lạ này.

Với chỉ số IQ khoảng 210, Kim Ung-Yong bắt đầu học đại học từ tuổi lên 3, khi mà hầu hết chúng ta còn đang chơi những trò trẻ nít và chỉ trong những gia đình quan tâm tới việc học của con, đứa trẻ 3 tuổi mới được làm quen với những cái đầu tiên.

Ấy vậy mà Kim đã giải quyết những phương trình phức tạp, sáng tác thơ, vẽ tranh và nói nhiều thứ tiếng. Trong một chương trình truyền hình của Nhật, Kim đã chứng tỏ trình độ siêu đẳng tiếng Trung, Tây Ban Nha, Việt Nam, Tagalog, Đức, Anh, Nhật và Hàn Quốc của mình. Kim nổi tiếng với chuyện chỉ cần 1 tháng để học trọn vẹn một ngôn ngữ.

Vào sinh nhật 5 tuổi, Kim đã giải được trọn vẹn các bài toán phức tạp của nhân loại. Năm 7 tuổi, sau khi kết thúc bốn năm nghe giảng ở Đại học Hanyang, cậu bé Kim Ung-Yong được Tổ chức hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) mời đến nước Mỹ.

Kim đã hoàn thành chương trình đại học và thậm chí còn lấy cả bằng tiến sĩ vật lý tại Đại học bang Colorado trước khi tròn 15 tuổi – độ tuổi chúng ta còn chưa tốt nghiệp trung học. Năm 1974, trong khi vẫn đang học đại học, Kim bắt tay vào làm nghiên cứu tại NASA.

Được Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ NASA mời vào làm việc khi mới 8 tuổi, Kim gắn bó với công việc này suốt mười năm. Nhưng trong ký ức của Kim, đây là những năm tháng cô độc và ảm đạm. Ông kể lại: “Thời điểm đó, tôi sống chẳng khác gì một cỗ máy. Tôi thức dậy, giải quyết những công việc được giao hàng ngày, ăn, ngủ và cứ thế. Tôi thực sự không biết tôi đang làm gì. Tôi vô cùng đơn độc và không có lấy một người bạn”.

Sau này, có ý kiến cho rằng, với chỉ số IQ cao đến như thế mà Kim không để lại phát minh hay dấu ấn gì vang dội như Einsten, người có chỉ số IQ thấp hơn khá nhiều (Kim có chỉ số IQ 210 trong khi Einstein chỉ là 160). Với tương quan như vậy, họ đặt câu hỏi nghi ngờ về tài năng thật sự của Kim.

Kim không thể trả lời, nhưng cũng không thể hoàn toàn đứng ngoài dư luận trong sự bức bối vì bị chĩa mũi dùi tấn công. Thực tế là Kim đảm nhiệm việc trong khu vực nghiên cứu đặc biệt của NASA – một công việc được bảo mật ở mức độ cao nhất.

Năm 1978, trở về Hàn Quốc, Kim đã quyết định chuyển từ ngành vật lý sang khoa công trình xây dựng dân dụng. Với ngành nghề mới này, Kim cũng mang về bằng tiến sỹ. Kim đã được mời học ở một trong những trường đại học danh giá nhất Hàn Quốc, tuy nhiên, Kim đã chọn học tại một trường đại học địa phương để ẩn dật. Và năm 2007, Kim đã trở thành tài năng sáng giá của trường Đại học quốc gia Chungbuk.

Việc trở về cuộc sống bình dị ở Hàn Quốc, phụng dưỡng cha mẹ và trở thành một công chức bình thường của Kim chính là lý do khiến dư luận xôn xao. Đúng như dự đoán, các phương tiện truyền thông đua nhau đưa tin về sự trở về của ông. Có những người phẫn nộ cho rằng ông đã từ chối định mệnh thiên tài một cách hoài phí, vô trách nhiệm và sẵn lòng gọi ông là kẻ thất bại.

“Tôi cảm thấy quá mệt mỏi và chán nản khi lại trở thành trung tâm của sự chú ý một lần nữa. Tôi tự thấy mình chẳng khác gì con khỉ trong vườn thú”, ông Kim nhớ lại. “Khi đó, còn chưa hề có Twitter hay chat nên báo giấy có quyền lực lớn lắm. Tôi đoán rằng những bài báo viết xấu về tôi nhiều tới nỗi đã có người gọi tôi là “kẻ tâm thần” khi suốt ngày trốn trong phòng. Tôi thực sự muốn tránh mọi sự chú ý hướng về tôi”.

Trong khi đó, một khó khăn khác xuất hiện. Muốn kiếm được việc làm ở Hàn Quốc, phải có bằng tốt nghiệp tiểu học, cấp hai, cấp ba. “Tôi chẳng có bằng cấp gì cả nên phải bắt đầu mọi thứ từ con số không”. Trên thực tế, ông Kim không hề gặp trở ngại gì bởi ông nhanh chóng lấy được các bằng trên chỉ trong chưa đầy hai năm.

“Sau đó, tôi muốn học đại học thay vì đi làm luôn. Tôi muốn đăng ký vào trường có bạn bè cùng tuổi tôi và không ở Seoul bởi như thế, tôi sẽ ít bị để ý hơn”, ông Kim tâm sự. “Ở trường, tôi sống cuộc sống năm thứ nhất như một học sinh tiểu học, năm thứ hai như một học sinh trung học, năm thứ ba như một học sinh phổ thông và năm cuối như một sinh viên bình thường.

Tôi coi cuộc sống như vậy là thành công. Không có nhiều người làm được những điều họ thực sự muốn làm nhưng tôi lại có cơ hội đó. Với tôi, như thế là hạnh phúc rồi”.

Thiên tài trước hết và sau cùng cũng là một con người

Bất chấp vô vàn nỗ lực để né tránh giới truyền thông, giữ cho mình một thế giới riêng tư trong những năm qua, ông Kim lại một lần nữa bị tổn thương khi xuất hiện bài báo viết về cậu bé vào đại học khi mới chín tuổi.

Trong bài báo, ông Kim được nhắc tới như một “tấm gương thất bại”. Câu chuyện đề cập đến Kim như thể ông đã nêu gương xấu cho các cậu bé. Họ thậm chí còn khuyến cáo rằng bọn trẻ không nên lựa chọn như Kim. Ông nói:

Thực ra, mọi người đã đặt quá nhiều ý nghĩa cho chỉ số IQ. Không ít người cho rằng chỉ số IQ cao đồng nghĩa với quyền lực to lớn. Nhưng điều đó không đúng. Hãy nhìn tôi xem, tôi không có khả năng âm nhạc, cũng chẳng xuất sắc trong các môn thể thao. Có chỉ số IQ cao chỉ là một yếu tố khác trong tài năng của con người.

Tôi chỉ giỏi tập trung, có thể nói được bốn ngoại ngữ: Pháp, Đức, Nhật, Anh nhưng giờ đây, tôi không phát âm trôi chảy như trước nữa. IQ cao không có nghĩa là trí nhớ bất diệt. Xã hội không nên đánh giá bất cứ ai dựa trên những tiêu chuẩn một chiều như thế. Tất cả mọi người đều có trình độ học vấn, khả năng, niềm đam mê, hi vọng khác nhau mà chúng ta nên trân trọng”.

Không khỏi phiền lòng vì bị dư luận tấn công, ông Kim từng thổ lộ: “Tôi được nhiều người biết đến với chỉ số IQ cao. Ngay từ năm 4 tuổi, tôi đã giải được nhiều bài toán hóc búa. Rõ ràng, các phương tiện truyền thông mặc định rằng tôi chắc chắn sẽ chọn làm việc tại phòng kế hoạch kinh doanh thuộc Tập đoàn Phát triển Chungbuk danh tiếng.

Dư luận kỳ vọng tôi trở thành một quan chức cao cấp trong chính phủ hay trong một công ty tầm cỡ. Nhưng tôi không nghĩ chỉ vì tôi không chọn trở thành người như dư luận mong muốn mà họ lại gọi tôi là kẻ thất bại”.

Với Kim Ung-Yong, cuộc sống của ông cho tới thời điểm này là một thành công lớn. Nhưng giới truyền thông vẫn “kiên quyết” gọi ông là “thiên tài thất bại”, nhất là khi Kim quyết định rời NASA, vào học một trường đại học ngoài Seoul và trở thành một nhân viên bình thường.

Nhớ lại thời gian đó, ông Kim vẫn còn cảm thấy cay đắng: “Tôi cố gắng nói với mọi người rằng tôi hạnh phúc với cuộc sống hiện tại, với con người tôi hiện tại. Tại sao mọi người cứ gọi hạnh phúc của tôi là thất bại?”.

Ngày nay, có cực kỳ ít thông tin và hình ảnh về Kim Ung-Yong được khai thác trên báo chí hay mạng Internet. Có lẽ với trí thông minh của mình, Kim đã thành công trong việc ẩn dật và sống cuộc sống hạnh phúc bình dị với gia đình mà ông đã phải đối đầu với dư luận trong suốt một thời gian dài để bảo vệ nó.

(Uyên Thảo)

Leave a comment

Tóm tắt các triều đại trong lịch sử Việt Nam

HỒNG BÀNG & VĂN LANG: (Khoảng thế kỷ 7 đến thế kỷ 3 trước CN)

  1. Kinh Dương Vương (~3054-~2839 TCN)
  2. Lạc Long Quân
  3. Hùng Vương (18 đời)


ÂU LẠC & NAM VIỆT: (Thế kỷ 3 trước CN)

  1. An Dương Vương (257-207 TCN)

THUỘC TÂY HÁN : (Thế kỷ 2 trước CN đến năm 25)

  1. Triệu Vũ Vương Triệu Đà 207-137 TCN
  2. Triệu Văn Vương Triệu Hồ 137-125 TCN
  3. Triệu Minh Vương Triệu Anh Tề 125-113 TCN
  4. Triệu Ai Vương Triệu Hưng 113-112 TCN
  5. Triệu Thuật Dương Vương Triệu Kiến Đức 112-111 TCN

Các vua nhà Triệu là người Hán, không phải người Việt.

THUỘC ĐÔNG HÁN: (25 – 226)

  1. Hai Bà Trưng: Trưng Trắc – Trưng Nhị (40 – 43)

THUỘC ĐÔNG NGÔ: (220 – 265)

  1. Bà Triệu: Triệu Thị Trinh (246 – 248)

THUỘC LƯỠNG TẤN : (265 – 420)

THUỘC NAM BẮC TRIỀU : (420 – 589)

NHÀ LÝ & NHÀ TRIỆU : (541-602)

  1. Lý Nam Đế Lý Bí còn gọi là Lý Bôn 541-548
  2. Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục 549-571
  3. Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử 571-602

THUỘC TÙY : (602 – 617)

THUỘC ĐƯỜNG : (618 – 907)

  1. Mai Hắc Đế : Mai Thúc Loan 722
  1. Phùng Hưng : Phùng An 791

THUỘC NGŨ ĐẠI : (907 – 938)

NHÀ KHÚC (Tĩnh Hải Tiết độ sứ): (905 – 939)

  1. Khúc Thừa Dụ 906-907
  2. Khúc Thừa Hạo 907-917
  3. Khúc Thừa Mỹ 917-923/930
  4. Dương Đình Nghệ 931-937
  5. Kiều Công Tiễn 937-938

NHÀ NGÔ : (939 – 967)

  1. Tiền Ngô Vương Ngô Quyền 939-944
  2. Dương Bình Vương Dương Tam Kha 944-950
  3. Hậu Ngô Vương Ngô Xương Ngập 950-965
    Hậu Ngô Vương Ngô Xương Văn 950-965

Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.
Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương
Ngô Xương Văn Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập cùng trị vì.


LOẠN 12 SỨ QUÂN

NHÀ ĐINH : (968 – 980)

  1. Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh 968-979
  2. Đinh Phế Đế Đinh Toàn 979-980

NHÀ TIỀN LÊ : (980 – 1010)

  1. Lê Đại Hành Lê Hoàn 980-1005
  2. Lê Trung Tông Lê Long Việt 1005 (3 ngày)
  3. Lê Ngoạ Triều Lê Long Đĩnh 1005-1009

NHÀ LÝ : (1010 – 1225)

  1. Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn 1010 – 1028
  2. Lý Thái Tông Lý Phật Mã 1028 – 1054
  3. Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn 1054 – 1072
  4. Lý Nhân Tông Lý Càn Đức 1072 – 1127
  5. Lý Thần Tông Lý Dương Hoán 1128 – 1138
  6. Lý Anh Tông Lý Thiên Tộ 1138 – 1175
  7. Lý Cao Tông Lý Long Trát 1176 – 1210
  8. Lý Huệ Tông Lý Sảm 1211 – 1224
  9. Lý Chiêu Hoàng Lý Phật Kim 1224 đến 1225

Lý Chiêu Hoàng là Nữ vương duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

NHÀ TRẦN : (1225 – 1400)

  1. Trần Thái Tông Trần Cảnh 1225-1258
  2. Trần Thánh Tông Trần Hoảng 1258-1278
  3. Trần Nhân Tông Trầm Khâm 1279-1293
  4. Trần Anh Tông Trần Thuyên 1293-1314
  5. Trần Minh Tông Trần Mạnh 1314-1329
  6. Trần Hiến Tông Trần Vượng 1329-1341
  7. Trần Dụ Tông Trần Hạo 1341-1369
  8. Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ 1369-1370
  9. Trần Nghệ Tông Trần Phủ 1370-1372
  10. Trần Duệ Tông Trần Kính 1372-1377
  11. Trần Phế Đế Trần Hiện 1377-1388
  12. Trần Thuận Tông Trần Ngung 1388-1398
  13. Trần Thiếu Đế Trần Án 1398-1400

NHÀ HỒ : (1400 – 1407)

  1. Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly 1400
  2. Hồ Hán Thương Hồ Hán Thương 1401-1407

NHÀ HẬU TRẦN : (1407 – 1414)

  1. Giản Định Đế Trần Ngỗi 1407 – 1409
  2. Trần Trùng Quang Trần Quý Khoáng 1407 – 1414

THUỘC MINH : (1407-1427)

  1. Trần Cảo Trần Cảo 1426-1428

NHÀ LÊ : (1428 – 1788)

  1. Lê Thái Tổ Lê Lợi 1428-1433
  2. Lê Thái Tông Lê Nguyên Long 1433-1442
  3. Lê Nhân Tông Lê Bang Cơ 1442-1459
  4. Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương) Lê Nghi Dân 1459-1460
  5. Lê Thánh Tông Lê Tư Thành (Lê Hạo) 1460-1497
  6. Lê Hiến Tông Lê Tranh 1497-1504
  7. Lê Túc Tông Lê Thuần 6/1504-12/1504
  8. Lê Uy Mục Lê Tuấn 1505-1509
  9. Lê Tương Dực Lê Oanh 1510-1516
  10. Lê Chiêu Tông Lê Y 1516-1522
  11. Lê Cung Hoàng Lê Xuân 1522-1527

NAM BẮC TRIỀU

Bắc Triều – Nhà Mạc : (1527 – 1593)

  1. Mạc Thái Tổ Mạc Đăng Dung 1527-1529
  2. Mạc Thái Tông Mạc Đăng Doanh 1530-1540
  3. Mạc Hiến Tông Mạc Phúc Hải 1541-1546
  4. Mạc Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên 1546-1561
  5. Mạc Mậu Hợp Mạc Mậu Hợp 1562-1592
  6. Mạc Toàn Mạc Toàn 1592
  7. Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
  8. Mạc Kính Cung (1593-1625)
  9. Mạc Kính Khoan (1623-1638)
  10. Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)

Từ đời Mạc Kính Chỉ, con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:

Nam Triều – Lê Trung Hưng (1533 – 1788)

  1. Lê Trang Tông Lê Duy Ninh 1533-1548
  2. Lê Trung Tông Lê Huyên 1548-1556
  3. Lê Anh Tông Lê Duy Bang 1556-1573
  4. Lê Thế Tông Lê Duy Đàm 1573-1599

TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

– Lê Trung Hưng (Trên Danh Nghĩa)

  1. Lê Kính Tông Lê Duy Tân 1600-1619
  2. Lê Thần Tông Lê Duy Kỳ 1619-1643
  3. Lê Chân Tông Lê Duy Hựu 1643-1649
  4. Lê Thần Tông Lê Duy Kỳ 1649-1662
  5. Lê Huyền Tông Lê Duy Vũ 1663-1671
  6. Lê Gia Tông Lê Duy Hợi (Lê Duy Cối, Lê Duy Khoái) 1672-1675
  7. Lê Hy Tông Lê Duy Hợp 1676-1704
  8. Lê Dụ Tông Lê Duy Đường 1705-1728
  9. Hôn Đức Công Lê Duy Phường 1729-1732
  10. Lê Thuần Tông Lê Duy Tường 1732-1735
  11. Lê Ý Tông Lê Duy Thận 1735-1740
  12. Lê Hiển Tông Lê Duy Diêu 1740-1786
  13. Lê Mẫn Đế Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ) 1787-1789


– Chúa Trịnh: (1545 – 1787)

  1. Thế Tổ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm 1545-1570
  2. Bình An Vương Trịnh Tùng 1570-1623
  3. Thanh Đô Vương Trịnh Tráng 1623-1652
  4. Tây Định Vương Trịnh Tạc 1653-1682
  5. Định Nam Vương Trịnh Căn 1682-1709
  6. An Đô Vương Trịnh Cương 1709-1729
  7. Uy Nam Vương Trịnh Giang 1729-1740
  8. Minh Đô Vương Trịnh Doanh 1740-1767
  9. Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm 1767-1782
  10. Điện Đô Vương Trịnh Cán 1782 (2 tháng)
  11. Đoan Nam Vương Trịnh Khải 1782-1786
  12. Án Đô Vương Trịnh Bồng 1786-1787


– Chúa Nguyễn: (1600 – 1802)

  1. Tiên vương (Chúa Tiên) Nguyễn Hoàng 1600-1613
  2. Sãi vương (Chúa Bụt) Nguyễn Phúc Nguyên 1613-1635
  3. Thượng vương Nguyễn Phúc Lan 1635-1648
  4. Hiền vương Nguyễn Phúc Tần 1648-1687
  5. Nghĩa vương Nguyễn Phúc Trăn 1687-1691
  6. Minh vương Nguyễn Phúc Chu 1691-1725
  7. Ninh vương Nguyễn Phúc Chú 1725-1738
  8. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát 1738-1765
  9. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần 1765-1777
  10. Nguyễn Ánh Nguyễn Phúc Ánh 1781-1802

NHÀ TÂY SƠN : (1788 – 1802)

  1. Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc 1778-1793
  2. Thái Tổ Vũ Hoàng Đế Nguyễn Huệ 1788-1792
  3. Cảnh Thịnh Hoàng Đế Nguyễn Quang Toản 1792-1802

NHÀ NGUYỄN : (1802 – 1945)

  1. Gia Long Nguyễn Thế Tổ – Nguyễn Phúc Ánh 1802-1819
  2. Minh Mạng Nguyễn Thánh Tổ – Nguyễn Phúc Đảm 1820-1840
  3. Thiệu Trị Nguyễn Hiến Tổ – Nguyễn Phúc Miên Tông 1841-1847
  4. Tự Đức Nguyễn Dực Tông – Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1848-1883
  5. Dục Đức Nguyễn Cung Tông – Nguyễn Phúc Ưng Chân 1883 (3 ngày)
  6. Hiệp Hoà Nguyễn Phúc Hồng Dật 6/1883-11/1883
  7. Kiến Phúc Nguyễn Giản Tông – Nguyễn Phúc Ưng Đăng 12/1883-8/1884
  8. Hàm Nghi Nguyễn Phúc Ưng Lịch – 8/1884-8/1885
  9. Đồng Khánh Nguyễn Cảnh Tông – Nguyễn Phúc Ưng Đường 1885-1888
  10. Thành Thái Nguyễn Phúc Bửu Lân 1889-1907
  11. Duy Tân Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916
  12. Khải Định Nguyễn Hoằng Tông Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925
  13. Bảo Đại Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ 1926-1945

PHÁP THUỘC: (1858 – 1945)

CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG:

NAM BẮC: (1954 – 1975)

– Việt Nam Cộng Hòa Tổng Thống:

  1. Ngô Đình Diệm 26/10/1955 – 2/11/1963
  2. Nguyễn Văn Thiệu 1/9/1967 – 21/4/1975
  3. Trần Văn Hương 21/4/1975 – 28/4/1975
  4. Dương Văn Minh 28/4/1975 – 30/4/1975

– Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa:

VIỆT NAM: (1975 – NAY)

– Danh sách Tổng bí thư Đảng qua các thời kỳ.

– Danh sách Chủ tịch nước qua các thời kỳ.

– Danh sách Thủ tướng chính phủ qua các thời kỳ.

Thống kê

Nếu không tính Hùng Vương là thời kỳ huyền sử còn nhiều nghi vấn, có thể đưa ra các thống kê về vua Việt Nam và các triều đại Việt Nam như sau (không tính các thời Bắc thuộc):

Về các vua

  • Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 – 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức
  • Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 – 1945)
  • Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207-137 TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072 – 1127), thứ đến Hậu Lê Hiển tông Duy Diêu: 47 năm (1740 – 1786).
  • Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày (1006), Dục Đức: 3 ngày (1883)
  • Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông lúc 1 tuổi (1442); Mạc Mậu Hợp lúc 2 tuổi (1562); Lý Cao Tông lúc 3 tuổi; Lý Anh Tông cũng 3 tuổi; Lý Chiêu Hoàng lúc 6 tuổi (1224).
  • Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370); Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)
  • Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321 – 1394). Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất: 120 tuổi (257-137 TCN) (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Ngoài ra, nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 – 1613)
  • Yểu thọ nhất: Hậu Lê Gia Tông Duy Khoái 15 tuổi (1661 – 1675)
  • Nữ vương đầu tiên: Trưng Vương (Trưng Trắc) (vì chỉ xưng vương) (40-43)
  • Nữ hoàng duy nhất: Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1224 – 1225), vợ vua Trần Thái tông Cảnh (1226 – 1258).
  • Vua duy nhất ở ngôi 2 lần: Hậu Lê Thần Tông (1619-1643 và 1649-1662)

Về các triều đại

  • Triều đại tồn tại lâu nhất: nhà Hậu Lê 356 năm (1428 – 1527 và 1533 – 1788).
  • Triều đại tồn tại ngắn nhất: nhà Hồ 8 năm (1400 – 1407).
  • Triều đại truyền nhiều đời vua nhất: nhà Hậu Lê: 27 vua (từ Thái Tổ đến Chiêu Thống), nhà Trần (kể cả Hậu Trần) 14 vua.
  • Triều đại truyền ít đời nhất: nhà Thục 1 vua.
  • Triều đại truyền qua nhiều thế hệ nhất: nhà Hậu Lê 14 đời (từ Thái Tổ Lê Lợi đến Trung Tông Duy Huyên, rồi từ Anh Tông Duy Bang đến Chiêu Thống Duy Kỳ), sau đó là nhà Lý: 9 đời (từ Thái Tổ Công Uẩn đến Chiêu Hoàng Phật Kim).
  • Triều đại xảy ra phế lập, sát hại các vua nhiều nhất: Nhà Lê sơ 6/11 vua.

Thái thượng hoàng

Thái thượng hoàng gọi tắt là thượng hoàng, ngôi vị mang nghĩa là “vua bề trên” trong triều. Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau. Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa. Triều đại có nhiều thượng hoàng nhất là nhà Trần với 9 thượng hoàng. Thông thường thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông. Ngoài 7 thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Mạc Thái Tổ, các thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều. Danh sách cụ thể các thượng hoàng trong Lịch sử Việt Nam như sau:

Triều đại Thái thượng hoàng Nắm quyền Ghi chú
Nhà Lý Lý Huệ Tông 1224-1226 Bị Trần Thủ Độ ép nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng lên làm thượng hoàng và đi tu ở chùa Chân Giáo.
Nhà Trần Trần Thái Tổ 1225-1234 Cha của Trần Thái Tông – vua đầu tiên nhà Trần. Thượng hoàng duy nhất chưa từng làm vua nhưng được tôn làm thượng hoàng do có con làm vua.
Nhà Trần Trần Thái Tông 1259-1277 Thượng hoàng thời Trần Thánh Tông.
Nhà Trần Trần Thánh Tông 1278-1293 Thượng hoàng thời Trần Nhân Tông.
Nhà Trần Trần Nhân Tông 1294-1308 Thượng hoàng thời Trần Anh Tông.
Nhà Trần Trần Anh Tông 1308-1320 Thượng hoàng thời Trần Minh Tông.
Nhà Trần Trần Minh Tông 1329-1357 Thượng hoàng thời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông. Thượng hoàng nắm quyền lâu nhất (29 năm).
Nhà Trần Trần Nghệ Tông 1372-1394 Thượng hoàng thời Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông. Thượng hoàng cao tuổi nhất (52 tuổi) và thọ nhất (74 tuổi).
Nhà Trần Trần Thuận Tông 1398-1399 Thượng hoàng thời Trần Thiếu Đế. Thượng hoàng yểu nhất (22 tuổi).
Nhà Hồ Hồ Quý Ly 1401-1407 Thượng hoàng thời Hồ Hán Thương.
Nhà Hậu Trần Giản Định Đế 1409 Thượng hoàng thời Trùng Quang Đế. Thượng hoàng nắm quyền ngắn nhất (4 tháng).
Nhà Mạc Mạc Thái Tổ 1530-1541 Thượng hoàng thời Mạc Thái Tông và Mạc Hiến Tông.
Nhà Hậu Lê Lê Thần Tông 1643-1649 Thượng hoàng thời Lê Chân Tông Duy Hưu, sau khi con mất sớm lại làm vua lần thứ hai. Việc này do chúa Trịnh sắp đặt.
Nhà Hậu Lê Lê Hy Tông 1705-1716 Thượng hoàng thời Lê Dụ Tông.
Nhà Hậu Lê Lê Dụ Tông 1729-1731 Thượng hoàng thời Hôn Đức Công Lê Duy Phường.
Nhà Hậu Lê Lê Ý Tông 1740-1758 Thượng hoàng thời Lê Hiển Tông. Thượng hoàng trẻ nhất (22 tuổi).

4 Comments

University vs College/School

Trước đây tôi phân biệt 3 khái niệm trên như sau:

– School: đào tạo các bậc tiểu/trung học tương ứng với các cấp 1, 2, 3

– College: đào tạo các bậc trung cấp, cao đẳng

– University: đào tạo bậc đại học, sau đại học

Và tôi đã từng sure là mình hoàn toàn đúng khi phân biệt các khái niệm trên như vậy, cho đến một ngày. Năm 2008, tôi qua Hàn Quốc học master với suất học bổng của BK21/IITA và trường tôi học có tên: School of Business IT, Kookmin University.

Quái lạ, sao họ lại dùng chữ school nhỉ? mình có phải là học sinh tiểu/trung học đâu?! Từ đó tôi lại nghĩ rằng: hay là school còn được dùng để gọi tên 1 khoa nhỉ (faculty) và tôi đã tự hài lòng với 1 khái niệm mới của school từ đó.

Thêm nữa, có thời gian tôi có ý định tìm một học bổng sau đại học bên Mỹ nữa do đó tôi tìm hiểu ranking của các trường bên Mỹ. Tôi đã bất ngờ khi thấy: Dartmouth College, Williams College, …. Mấy trường này nổi tiếng, lớn, mạnh quá chừng mà sao lại là cao đẳng (theo cách hiểu của tôi luc đó) được nhỉ? Hay là, College cũng ngang bằng với University ?!.

Dưới đây là 1 bài viết chi tiết hơn để giúp các bạn phân biệt rõ 3 khái niệm trên dưới các góc độ từ Việt Nam, và từ các nước khác trên thế giới.

———-

Trong hệ thống giáo dục Mỹ, College là đại học chỉ đào tạo và cấp bằng về một lĩnh vực cụ thể, còn University là một tổng thể bao gồm nhiều College với nhiều lĩnh vực đào tạo. Ví dụ, trong một University, bạn có thể tìm thấy College of Business (gồm các ngành như Accounting (Kế toán), Finance (Tài chính), Marketing (Tiếp thị), Business management hoặc College of Engineering (gồm các ngành về kỹ sư phần mềm, vi tính, cơ khí, cầu đường, dầu khí, hóa…), College of Architecture (ĐH Kiến trúc), College of Education (ĐH Sư phạm)…

Ở một số trường đại học, người ta cũng có thể dùng từ School thay cho College. Ví dụ, School of Medicine (ĐH Y khoa), School of Business, School of Engineering…

Nói cách khác, khi bạn vào một University, nghĩa là bạn sẽ tốt nghiệp từ một College nào đó của trường. Do vậy, xét về mặt học thuật, ý nghĩa của hai từ University và College không khác biệt nhiều khi nói đến đại học ở Mỹ. Phần lớn người Mỹ đều dùng từ College thay vì University để nói đến việc học ở cấp bậc đại học.

Người ta chỉ dùng từ University khi đề cập đến một trường đại học cụ thể nào đó, ví dụ như Harvard University, Stanford University, hay University of California in Los Angles…

Tuy nhiên, cũng có một số trường đại học vẫn giữ chữ College trong tên trường của mình thay vì University vì nhiều lý do. Một trong những lý do đó là ý nghĩa và giá trị lịch sử của ngôi trường. Ví dụ như College of William & Mary ở Virginia, thành lập năm 1693 vẫn giữ nguyên tên này cho dù nó tương đương University.

Hoặc Dartmouth College ở New Hampshire thành lập năm 1769 cũng là một đại học danh tiếng bậc nhất của Mỹ. Cũng có những University hoàn toàn không dùng từ này trong tên trường của mình như Massachusetts Institute of Technology (MIT).

Mặt khác, ở Mỹ, bạn cũng cần phải phân biệt College trong các trường đại học với Community College. Trong khi các trường đại học có thể đào tạo và cung cấp các bằng cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ và làm các công việc nghiên cứu thì Community College chỉ có thể đào tạo và cung cấp các bằng hai năm (Associate’s degree, giống như bằng trung cấp ở Việt Nam), hoặc các chứng chỉ dạy nghề (certificates).

Sinh viên cũng có thể theo học hai năm đầu của bậc đại học ở Community College trước khi chuyển sang đại học để học hai năm cuối và lấy bằng cử nhân tại đại học đó. So với các trường đại học, Community College rẻ tiền hơn và cũng dễ dàng được nhận vào hơn.

Tuy nhiên, ở một số nước nói tiếng Anh khác trên thế giới, việc sử dụng từ University và College cũng có sự khác biệt. Ví dụ, ở Canada, University là nơi cung cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, hoặc tiến sĩ, nhưng College chỉ có thể cung cấp các loại chứng chỉ.

Tương tự, ở Australia, các trường College được gọi là Technical and Further Education (TAFE) cũng chỉ có thể cung cấp các loại chứng chỉ.

Vì vậy, nếu nhìn ở góc độ của người Mỹ, các trường đại học Việt Nam đều là College vì mỗi trường chỉ đào tạo một lãnh vực riêng biệt. Ví dụ, ĐH Bách khoa chỉ đào tạo kỹ sư, nên nó chỉ có thể là College of Engineering, ĐH Kinh tế là College of Business, ĐH Y là College of Medicine, ĐH Y Dược chỉ có thể là College of Pharmacy, ĐH Sư phạm là College of Education…

Nhưng nếu đem Việt Nam ra so sánh với các nước khác trên thế giới, việc sử dụng từ University hay College cũng có thể được thay đổi tùy theo hoàn cảnh (giống như ở Canada hay Australia). Cho nên, việc dịch tên các trường đại học ở Việt Nam sang tiếng Anh quan trọng nhất là đúng ý nghĩa và chức năng của từng trường và cần có sự thống nhất giữa các trường.

(Nguyễn Nghĩa)

Leave a comment

Nhật Bản – một xã hội đảo ngược với Việt Nam?

Cộng với những hiểu biết vốn có từ trước năm ngày du lịch bụi ngắn ngủi, đủ để tôi cảm thấy xã hội Nhật, người Nhật là cả một hình ảnh đảo ngược của xã hội Việt, người Việt.

8 – 6 -2013

Xuất phát từ Hà Nội, sau một chuyến bay đêm hơn bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt đầu một ngày mới trên chiếc xe từ sân bay Narita về Tokyo. Không khí dịu mát như một ngày cuối thu đầu đông ở đồng bằng sông Hồng, song cái lạnh ở đây lại có khí vị vùng biển bắc, cái cảm giác mà tôi cảm nhận khi đến Leningrad vào năm 1988.

Nhìn chung quanh, thấy khung cảnh thoáng rộng sạch sẽ, cây cối đạm bạc. Ghé lại một trạm bên đường để xe mua xăng, bắt gặp không khí của nước Nhật bình thường, người nào người nấy chăm chú vào công việc.

Có cái lạ là, khi đến Tokyo, tôi cũng lại gặp một khung cảnh vắng lặng như vậy. Không những trên đường người đi bộ thưa thớt mà cả ô tô đi lại cũng ít. Trong khi đó, lại biết rằng Tokyo có đến 20 triệu dân và hàng ngày có đến 40 triệu người lai vãng. Nơi tôi tới chỉ là ngoại ô chăng? Thành phố chính ở đâu? Như đã đoán được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn du lịch sớm giải thích, đây chỉ là phần trên mặt đất, còn trong lòng đất có đến bốn thành phố nữa. Ở đó cũng có giao thông, xe điện ngầm, những phố buôn bán; ở đó mặc dù rất đông, nhưng rất trật tự.

Ngày đầu xa lạ

Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến tham quan là phía ngoài hoàng cung Nhật. Cũng như mọi người dân nội địa, chúng tôi không được vào tham cung điện chính của hoàng gia, chỉ được đứng và quan sát từ xa và nghe người giới thiệu kể chuyện lại về một cuộc sống rất khổ hạnh của những người sống trong cung điện đó.

Người Nhật quen chấp nhận tình trạng cách ly này bởi họ hiểu những người sống trong hoàng cung phải nhận vai hình mẫu của nước Nhật, có nghĩa phải chịu rất nhiều áp lực. Có những người con gái trong đó cảm thấy thật nhẹ nhõm nếu lấy được người chồng dân thường, ra khỏi hoàng cung, để được sống như mọi người bình thường.

Buổi chiều chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Tòa thị chính, ở đây có tháp truyền hình cũ, từ đó có thể nhìn ra cả Tokyo.

Có điều mất vui là ngay trong buổi chiều đầu tiên này, đoàn du lịch chúng tôi đã có một người bỏ trốn. Khi cả đoàn lên tháp rồi lần lượt xuống dần thì anh ta lẩn mất. Sau mới biết, từ Hà Nội anh ta đã chuẩn bị để làm việc này. Cái ba lô còn lại trên xe ô tô của anh nhẹ tênh. Theo sự giải thích của người hướng dẫn, có lẽ đây là một người Việt được bố trí sang Nhật để trộm cắp thuê. Dân Việt có hộ chiếu bên đó, khi phát hiện ăn cắp thì sẽ bị trục xuất khỏi nước Nhật. Nên họ phải thuê những người trong nước sang làm chân rết. Người này có bị tống về thì cũng không mất đầu mối.

Trong lúc vẩn vơ chờ làm các thủ tục, khoảng hơn một tiếng đồng hồ, tôi nhìn quanh khu Tòa thị chính, thấy một không khí vắng vẻ. Nhớ nhất là hình ảnh một cô gái dắt hai con chó đi đường. Cô chăm sóc chúng hết sức cẩn thận. Khi chúng đói lấy thức ăn và theo dõi chúng ăn, bình thản chờ đợi như bà mẹ đang đi chơi với những đứa con thân yêu của mình.

Tâm thế mới của phụ nữ Nhật

Để giải tỏa nỗi chán chường của bọn tôi, người hướng dẫn giới thiệu một tình thế của người dân Nhật mà trước kia chúng tôi không thể tưởng tượng nổi.

Anh cho biết , hiện nay ở nước Nhật có đến 62% người sống độc thân. Nếu nhìn trên đường, chúng ta luôn thấy những người đàn ông chăm chú nhìn về phía trước. Họ buồn, như là một thứ nhân vật phụ của cuộc đời. Còn chính phụ nữ mới là những người đầy sức sống và thách thức.

Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật –từ nhỏ, đã được nghe câu nói ghi nhận sự tận tụy của người phụ nữ Nhật với gia đình.

Sau chiến tranh, khi nước Nhật bắt tay khôi phục kinh tế, người đàn ông tập trung vào công việc của mình và ít khi về nhà trước 7h tối. Mọi việc liên quan tới gia đình và con cái đặt cả lên vai vào người đàn bà. Họ tự nguyện làm như thế cả đời.

Hôm nay đây tôi còn chứng kiến cảnh một đôi ông bà già trên đường; khi tới chỗ nghỉ, người phụ nữ rút chiếc khăn mù xoa trong túi ra mời chồng mình ngồi.

Nay mẫu phụ nữ loại đó chỉ còn thưa thớt.

Bề ngoài người phụ nữ Nhật không tự biểu hiện lộ liễu như người Việt. Màu sắc phần lớn trang phục là màu trắng, màu xám và màu đen. Như đang tự giấu mình đi. Không ai tô son, trát phấn… Nhưng cuộc sống bên trong thì, theo anh hướng dẫn viên, thực sự nồng nhiệt. Khoảng mươi, mười lăm năm gần đây, phụ nữ Nhật nổi loạn, nhiều người không lấy chồng vì không thích phụ thuộc vào gia đình chồng và rất tự lập trong đời sống riêng tư.

Ở Nhật, đời sống tình dục được coi bình thường như cơm ăn nước uống và phụ nữ có phố đèn đỏ của mình. Ở đó, đối tác của họ là những thanh niên mới lớn và lấy việc thỏa mãn nhu cầu phụ nữ làm nghề phụ. Người ta có cách giữ bí mật cho cả hai bên.

Trong túi đàn bà, từ em thanh nữ mới lớn đến đám sồn sồn tuổi trung niên luôn có ca-pốt. Và họ chủ động tìm tới những đối tượng để có thể thỏa mãn những khát khao bất chợt nhưng chính đáng.

Trong các món quà trao nhau nhân ngày lễ tết, chính phụ nữ là màu nóng, còn nam giới được tượng trưng bởi màu lạnh.

9 – 6

Niềm vui với những công việc bình thường và tính tự lập được rèn từ nhỏ

Buổi sáng chủ nhật, bọn tôi đến khi vui chơi Disney Land nổi tiếng. Ấn tượng lớn nhất, vẫn là những người phụ nữ làm công việc như hướng dẫn người đi tham quan và bảo vệ trật tự chung quanh đó. Những công việc có vẻ tẻ nhạt như thế được người Nhật làm với tất cả niềm vui và sự háo hức khiến người Việt chúng ta gần như không thể hiểu nổi. Đứng bên cạnh những đoàn xe lửa làm theo lối cổ, các nhân viênphục vụ không những ân cần giúp đỡ cho người lên xe, mà còn tình cảm vẫy chào khách lên đường, rồi lại hào hứng đón khách xuống khi hết vòng quay.

Người hướng dẫn du lịch giải thích thêm với chúng tôi, người Nhật rất nghiêm túc trong việc công. Tất cả công chức đi làm đều mặc Âu phục. Với họ, làm công chức không phải chỉ để kiếm tiền mà để phục vụ xã hội, việc làm hợp đạo nghĩa làm người.

Một ấn tượng khác, là trẻ con trên nước Nhật rất ngoan và quen tự lập. Trên đường mỗi trẻ có túi thức ăn riêng, tự lấy thức ăn khi muốn. Thông thường các em đi theo người lớn rất đàng hoàng. Một ngày ở công viên không nghe tiếng khóc nào của bọn trẻ.

Người Nhật có tinh thần tự trọng cao độ. Trong hoàn cảnh nghèo khó, ít khi chấp nhận sự giúp đỡ của người khác mà làm được cái gì thì hưởng cái đó. Điều đó được rèn từ nhỏ. Ở trường nuôi dạy trẻ, từ lúc biết bò, đứa trẻ đã phải tự bò đến bàn thức ăn để lấy thức ăn. Ở lớp lớn hơn, đứa trẻ tự gấp lấy quần áo và lo giữ vệ sinh.

Từ chuyện giao thông tới chuyện pháp luật

Đã hơn chục lần đi theo các đoàn du lịch nước ngoài, tôi thấy trên xe thường người Việt Nam chỉ hay pha trò đùa bỡn, trêu chọc nhau, bàn chuyện ăn uống, nói tục. Đa số người mình đi du lịch để làm dáng, để tiêu tiền, không mấy ai tính chuyện đi để hiểu biết về xứ sở mà mình đặt chân tới. Những người hướng dẫn du lịch Trung quốc chẳng hạn, rất hiểu cái sự tầm thường đó. Trên xe, thể theo yêu cầu của người mình, họ nói những chuyện trong thâm cung bí sử, nhưng toàn thứ vụn vặt gây tò mò. Nói chung trình độ những người hướng dẫn cho các đoàn VN ở các nước gần ta rất thấp. Người có chí chắc đi học tiếng Anh tiếng Đức chứ chả ai chịu học tiếng Việt làm việc với các đoàn Việt.

May mắn lần này chúng tôi gặp người hướng dẫn khác hẳn. Anh cũng là người Việt. Sang Nhật học, sau đó nhập quốc tịch Nhật và đưa cả vợ con sang đó. Trong những lúc rỗi trên xe, anh Đức (tôi không biết họ, chỉ nhớ tên) giới thiệu với chúng tôi rất nhiều về đặc sắc của nước Nhật, và điều đó rất cần thiết với những người từ Việt Nam tới.

Ví dụ có lần anh nói về chuyện giao thông trên đường.

Chúng ta biết rằng người Nhật đi lại rất từ tốn và người ta nhường đường nhau khi có việc cần tranh chấp. Trong câu chuyện của mình, anh Đức có lưu ý thêm một điều. Luật pháp được soạn thảo rất tỉ mỉ và nói cho cùng là rất nhân bản. Một mặt nhà nước bố trí cảnh sát theo dõi tốc độ của xe trên đường, nhưng mặt khác, họ cho phép các nhà sản xuất cung cấp cho lái xe các thiết bị cần thiết có khả năng cho biết chỗ nào cảnh sát giao thông đứng bắn tốc độ, để tự động điều chỉnh lại. Tức là người làm luật muốn bảo vệ quyền được đi nhanh hơn của xe cộ trong hoàn cảnh cho phép.

Sự áp đặt luật pháp của những người cầm quyền ở đây cũng là rất mềm dẻo.

Khi có người lái xe phạm lỗi, cảnh sát, từ lúc yêu cầu giữ lại đến lúc lên xe để đặt vấn đề phạt, đều có thái độ lịch sự tôn trọng đối tác, tìm cách thân thiện bàn bạc, chứ không phải một chiều hạch sách rồi muốn bắt người ta thế nào cũng được. Khi không thống nhất được với nhau, họ để dành quyền phán xét cho tòa án,– cố nhiên đó không phải loại tòa án bao giờ cũng nhăm nhăm bênh cảnh sát như người nước mình. Danh tính của những người bị phạt không bao giờ bị làm lộ.

Tôi cho đó mới là sự tôn trọng, sự khuyến khích người dân sống và làm theo luật pháp một cách hữu hiệu.

Pháp luật — một bên nặng về răn đe trừng trị và một bên biết “cận nhân tình”

Có lần đọc cuốn Đông Á – Đông Nam Á – Những vấn đề lịch sử và hiện tại (nx b Thế giới, 2004), thấy ông Vũ Minh Giang (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói tới những điểm tương đồng trong tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có nhấn mạnh cả hai bên đều chú trọng pháp luật (sách trên tr. 62).

Hôm nay nhớ đến đoạn này bỗng thấy phì cười. Vì sự thật trong khi ở nước người, chính quyền hết sức tôn trọng và đặt mình vào trong pháp luật thì ở mình, pháp luật được soạn ra để áp dụng với dân, chứ nhân viên công quyền đều hiểu ngầm rằng mình là người đứng ngoài. Mà người dân cũng vậy, thấy pháp luật là chuyện phiền phức, song mặc nhiên chấp nhận, lại còn tìm thấy niềm vui trong việc làm ngược pháp luật. Trừng phạt răn đe nặng nề đến độ dã man được xem như một sự cần thiết.

Để hiểu tính mềm dẻo mà chặt chẽ của pháp luật ở Nhật Bản, hãy trở lại câu chuyện về nhu cầu phụ nữ, phố đèn đỏ, mua dâm và bán dâm. Một mặt theo phong tục tập quán cổ, luật nước Nhật cấm tất cả sự tiếp xúc nam nữ ở dạng trần trụi. Thế nhưng đồng thời họ vẫn thấy con người Nhật Bản đã thay đổi, nên các nghị sĩ khi làm luật đã nghĩ ra cách để bảo vệ sự tiếp xúc này, không để dân bị ràng buộc vào luật một cách máy móc. Ví dụ như họ sẽ phạt nếu một trong hai bên không có vật lạ trong người khi tiếp xúc. Mà vật lạ này hiểu theo nghĩa rất rộng, nếu phụ nữ có một vòng đeo tay hoặc người đàn ông có một cái răng giả thì tức là đã không phạm luật. Thế thì còn phạt được ai nữa? Những điều này, theo tôi rất nhân đạo. Còn thuần túy truy bức như ở ta là bất cận nhân tình và sẽ sinh ra gian dối.

Các cửa hàng đồ cũ và thói quen cộng tác trong mọi việc

Nhân khi vào cửa hàng đồ cũ, anh Đức giới thiệu cho chúng tôi biết ở Nhật, loại hàng này có cả một hệ thống phân phối. Những năm 70 – 80 người dân bình thường có thói quen thải loại đồ cũ ra theo hình thức rác và người Việt Nam sang nhặt mang những đồ cũ đó đem về trong nước. Nay họ có ý thức thu gom và phân phối lại. Nhân đây, anh Đức kể về việc tổ chức làm ăn ở xứ này. Là khi có một công việc hợp lí thì nó cũng được phổ biến khắp nước Nhật. Những người cùng ý tưởng tự tổ chức thành những công ty, không có người nào đứng ngoài công ty đó mà có thể cạnh tranh với họ được. Người Việt mình dành được miếng mồi thì ăn lẻ, không ai cộng tác được với nhau, mà chỉ dìm dập nhau, phá nhau. Ở Nhật, nếu một người có sáng kiến chung thì sẽ đưa ra để phục vụ lợi ích chung.

10 – 6

Chung quanh núi Phú Sĩ

Tối hôm qua, ngủ đêm tại khách sạn thuộc khu Hà Khẩu Hồ (tôi đọc theo âm Hán Việt) thuộc khu vực núi Phú Sỹ, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào gia đình người Nhật. Ăn một bữa cơm theo kiểu gia đình người Nhật vẫn ăn. Xong, được bố trí đến khu vực tắm. Nam chung một bên, nữ một bên, nhưng đã xuống tắm phải bỏ hết quần áo. Đêm, được bố trí ngủ lại căn phòng như của người Nhật. Việc xâm nhập sâu vào phong tục ăn ở như thế trong những lần đi các chuyến khác, bọn tôi không có dịp thực hiện.

Sáng dậy, đi quanh hồ, tôi chợt nhận ra rằng nhà cửa ở đây cũng nhô ra thụt vào mà không có lớp lang trật tự như mạn Giang Nam bên Trung Quốc. Vườn hoa ở các gia đình hay các công sở không nổi bật lên vẻ rực rỡ mà trông hơi có vẻ khổ hạnh và chỉ gợi chú ý bởi lùm cây hoặc một tảng đá nào đấy. Tất cả khu vườn quy tụ chung quanh vào vật trung tâm đó. Ngoài ra cây cỏ trong vườn thì kém, cỏ mọc rườm rà, thiếu một sự xử lý công phu. Các công viên chỉ lo tạo ra sự kì bí mà tảng đá có vai trò vật chủ và mối liên hệ giữa đá và cây là nhân tố chính gợi nên một vẻ đẹp.

Ngồi xe lên núi. Các tài liệu du lịch đều nói rằng Phú Sĩ là biểu tượng của đất nước mặt trời mọc. Trước khi lên đến trạm 5 ở độ cao 2000m, chúng tôi phải vượt qua hàng chục cây số rừng. Nhưng khi đến nơi, ngôi miếu trên trạm 5 đó khá đơn sơ. Nói chung, chùa chiền của Nhật không hào nhoáng, lộng lẫy như đền chùa của Trung Quốc. Thu hút du khách nhất là việc đứng ở đấy chiêm ngưỡng cả ngọn núi trong tuyết phủ.

Đối với người Nhật, núi Phú Sỹ là biểu tượng cao nhất của sự thiêng liêng. Người ta theo dõi để không ai có thể lấy đi hòn đất nào chung quanh núi. Đã có những khách nước ngoài đến, định lấy những hòn đất đi và đều bị phát hiện.

Chung quanh núi là khu vực huyền bí, người ta nói có những người Nhật đã đến đây để sống những ngày cuối đời, tức là tự tử ngay trong khu rừng trùng điệp mà mãi về sau người ta mới phát hiện ra. Số người này đang tăng hàng năm.

Ấn tượng sau nửa ngày ròng ngồi ô tô

Từ giã Phú Sỹ, bọn tôi tới Owakudani, nơi có vết tích của miệng núi lửa phun trào cách cây 3000 năm. Sau đó, là chặng đường dài tới Nakoné và Nagoda.

Trước lúc qua Nhật, một người quen cũ đã nói rằng, do du lịch bụi, chắc là bọn tôi không có điều kiện để sử dụng những phương tiện hiện đại nhất như tàu cao tốc và phải di chuyển từ địa điểm nọ đến địa điểm kia bằng ô tô. Ông nói điều đó với sự ái ngại vì ở Nhật số người di chuyển bằng ô tô rất ít. Nhưng đối với tôi, cảm tưởng là được ngồi ô tô đi trên những con đường nhựa nhẵn bóng và hiện đại của nước Nhật cũng đã sung sướng lắm. Nữa là, sau một buổi chiều như thế, lại có may mắn gần như được nhìn gần vào một nước Nhật và hiểu thêm điều người ta hay nói “Xứ này nghèo về tài nguyên và chỉ có một thiên nhiên khắc khổ, nhưng đã chinh phục được thiên nhiên khắc khổ đó để trở thành một xứ giàu có.”

Nhìn một hai ngôi nhà lắt lẻo giữa một triền núi xa, tôi hỏi Đức họ sống ra sao thì được trả lời:

— Một gia đình Nhật định cư ở đâu thì chính phủ Nhật có trách nhiệm làm đường tới đó, bảo đảm hàng hóa lưu thông tới đó để họ có thể sống bình đẳng với mọi người.

Có một chuyện mà ở nhà tôi đã biết nhưng chưa thấy hết ý nghĩa của nó, đó là việc người Nhật không khai thác tất cả những rừng cây và vùng mỏ cũng khá giàu có của mình. Tất cả những đồ gỗ ở đây đều nhập từ nguồn lâm sản nước ngoài, cũng như các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp của họ. Đối chiếu với cách nghĩ Việt Nam, kể ra đây cũng là một sự lạ. Và lạ hơn hết là người Việt chúng ta còn cho chuyện tàn phá tài sản thiên nhiên là chuyện thường, không bán hết đi thì lấy gì mà ăn.

Nông thôn đô thị chung một mặt bằng

Lúc này trước mắt du khách không còn là một nước Nhật của các cao ốc và các khu đô thị thoáng đãng. Vùng đất nằm rải rác giữa núi non và bãi biển không có gì là hấp dẫn và mĩ lệ như các vùng biển của Việt Nam mình. Nhưng ở bất cứ nơi nào có điều kiện thì người nông dân Nhật vẫn cần cù sản xuất. Cảm giác còn lại trong tôi là một nước Nhật giống như một mặt bằng, giữa nông thôn và thành thị gần như không có sự chênh lệch. Nay, là thời, theo Đức kể, người nông dân Nhật làm ruộng bằng cách đi thuê các xí nghiệp nông nghiệp làm cho họ. Và đã có các hãng lớn chuyên làm nông nghiệp phụ trách giúp họ từ việc chọn giống, cày bừa đến bón phân và thu hoạch. Người nông dân chỉ việc ở nhà dùng tiền của mình đầu tư chứng khoán.

Người Nhật đặc biệt lo bảo vệ nguồn lương thực của mình, tạo cho xứ sở một thứ thức ăn không những ngon lành mà còn bảo đảm chuẩn khoa học không gạo nước nào có thể có được. Đã có những thời gian mà chính phủ Nhật do áp lực quốc tế phải nhập một số gạo của các nước khác, khi mang về phân phối cho dân thì không đâu người ta lấy, đến cả cho không cũng không ai nhận. Cuối cùng, số gạo đã mua buộc phải đem đi dùng làm hàng viện trợ cho các nước khác.

Đặt người Việt bên cạnh người Nhật

Cũng nhân thời gian rỗi trên đường xa, Đức kể với tôi về chuyện những người Việt Nam ở Nhật. Đức cho biết thật ra sau 4-1975, số người Việt sang Nhật không phải là ít, nhưng số có thể trụ lại được ở Nhật thì không nhiều và phần lớn là họ phải bỏ qua bên Úc hoặc bên Mĩ làm ăn. Việc du nhập vào cộng đồng Nhật, đòi hỏi sự nỗ lực đặc biệt mà người Việt không quen, chưa kể tiếng Nhật với nhiều người là khó học.

Chưa quen là như thế nào? Dù là mới tiếp xúc với người Nhật và văn hóa Nhật một cách đơn sơ, tôi vẫn có cảm tưởng người Nhật với người Việt Nam như hai đối cực, người nọ là thế giới đảo ngược của người kia.

Người Nhật có tinh thần gắn bó với xã hội, cấu kết với cộng đồng còn người Việt khôn lỏi, chạy vặt.

Người Việt thích phô trương còn người Nhật giấu mình sau vẻ ngoài bình lặng.

Người Việt ồn ào, lắm chuyện coi nơi công cộng là chỗ tự do buông thả còn người Nhật sợ nhất làm phiền người khác cũng như là bị làm phiền.

Bữa qua Miến Điện, tôi nhận ra một điều là không hiểu sao người bên đó có vẻ ít nói, trên đường không có cảnh vừa đi vừa cầm điện thoại tán chuyện. Có thể người Miến Điện không có tiền mua các loại máy mới? Nhưng Nhật là một nước giàu có. Sao dân họ vẫn không có thói nói lắm nói nhiều và xả ra cả khối lượng rác âm thanh ngập ngụa trên mọi ngả đường? Chợt nghĩ chính sự nói lắm nói nhiều nói một cách ba vạ đã giết chết sự suy nghĩ của người mình. Nó làm cho chúng ta thành một xã hội câm nín trước các vấn đề rất lớn đang phải đối mặt.

Xuất khẩu lưu manh

Hôm nay có đến hơn một giờ đồng hồ liền, Đức toàn kể chuyện người Việt sau 4-1975 tràn sang Nhật làm những việc gian dối như cờ bạc trộm cắp ra sao, cảnh sát Nhật đã từng bước đấu trí với người Việt để vô hiệu hóa các đồng bào lưu manh của chúng ta thế nào.

Chuyện đấu trí ấy tôi định ghi mà không sao theo dõi kịp nên đành bỏ. Chỉ nhớ nhất một chi tiết. Có nhiều người Việt sau khi kiếm bẫm bằng con đường bất chính trở ,liền lấy cái vốn thu được từ nước ngoài về làm vốn kinh doanh và trở thành đại gia.

Từ việc này nẩy ra hai ý nghĩ bổ sung:

1/ Ở các xã hội lành mạnh, đám nhà giàu là những người con ưu tú của dân tộc, họ như đầu tầu kéo cả cộng đồng đi theo. Ở một xã hội dở dang rồi biến chất như ở ta, một thời gian dài không công nhận tài sản cá nhân, thì ngược lại, đám nhà giàu phần lớn là đám lưu manh, khoác áo quan chức làm việc lưu manh. Họ phất lên trong chiến tranh bằng cách buôn lậu những hàng quốc cấm xuyên quốc gia. Với những đồng tiền kiếm được bằng các thủ đoạn xấu xa, khi trở về nước làm kinh tế, họ có góp phần thúc đẩy sự làm ăn và vì thế cả người dân lẫn chính quyền hoan nghênh họ. Nhưng lùi xa mà nhìn, thì thấy đóng góp của những người này không thấm là bao so với sự phá hoại những nguyên tắc đạo đức, tức những tác hại lâu dài, mà họ mang lại.

2/ Ngoài số đại gia trên, hiện còn không ít người Việt, đang sống vất va vất vưởng theo kiểu ăn cắp vặt, buôn lậu, làm thuê làm mướn ở xứ người.

Nhớ hồi chống Mỹ trong đầu mọi người dân luôn được nung nấu cái ý nghĩ Ta chiến đấu thế này không phải chỉ vì ta. Ta đang chiến đấu cho cả thế giới. Ta đang trở thành lương tâm nhân loại… .

Kỳ cục thế mà ai cũng tưởng thật và ai cũng thích.

Được những tư tưởng kiểu đó quấn chặt vào đầu, nhiều người Việt sau 4-75 ra nước ngoài, tự cho phép mình làm tất cả những việc xấu xa nhất, bất chấp luật pháp nước sở tại và những nguyên tắc đạo đức thông thường. Một cuộc xuất khẩu thói lưu manh đã kéo dài chưa biết bao giờ chấm dứt.

11 – 6

Thăm các di tích lịch sử

Tham quan chùa Thanh Thủy. Ấn tượng nhất không phải là ngôi chùa, mà là cách dựng công trình tôn giáo này. Cách nó bám vào chân hòn núi đá. Cũng lại là một biểu tượng của tinh thần bám trụ của con người vào một thiên nhiên khắc nghiệt.

Buổi chiều tới ngôi Chùa Vàng. Đọc chữ Hán, thấy chính ra chùa này phải gọi là Kim Các tự mới đúng. Tôi thích cả không gian chung quanh chùa và cả cái cách người ta tạo ra ấn tượng đối với người tới tham quan.

Có một điều tôi thấy tin, là những chi tiết người ta trình bày về ngôi chùa, cái giá trị cổ kính của nó. Các di tích ở Việt Nam thường có những bảng giới thiệu rất luộm thuộm, nhiều lúc có cảm tưởng do những người không hiểu biết viết ra.

(Còn nhớ là lần vào Văn miếu năm 2010, khi đọc tiểu sử Khổng Tử, thấy viết là Đức Thánh Khổng “có đến bốn tác phẩm gọi là Tứ Thư”. Điều này sai vì bốn tác phẩm đó có tên là Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử. Sao lại nói cuốn Mạnh Tử do Khổng Tử viết được?)

Một niềm tin khác, khi đến thăm các công trình kiến trúc cổ, là cảm thấy chắc chắn nó giống như là ban đầu nó đã được hình thành. Trong một cuốn sách về văn hóa Nhật, tôi đọc thấy người ta nêu lên một nguyên tắc khi trùng tu các công trình lịch sử. Là bất cứ thời nào, muốn làm lại các công trình cũ thì cũng phải làm đúng như cái ban đầu, kể từ hình dáng, các chi tiết trình bày cho đến chất liệu kiến trúc.

Một cách tự nhiên, tôi có cảm tưởng, chúng ta có thể tin được nền sử học Nhật Bản, một niềm tin không thể có đối với nền sử học Việt Nam hiện nay.

Trong số các đoàn nội địa tới tham quan tại các công trình kiến trúc lịch sử, ở đâu tôi cũng gặp những đoàn học sinh do các giáo viên già dẫn đường và giới thiệu. Sau được nghe lại, thấy nói là trong chương trình học phổ thông, tất cả các học sinh có quyền được đi tham quan các di tích có ghi trong sử sách. Chi phí các chuyến đi ấy do nhà nước đài thọ và chỉ những người kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới được giao việc hướng dẫn các em.

Tình hình này khiến người ngoại quốc hiểu thêm một điều là tại sao không bao giờ các di tích, các thắng cảnh ở Nhật lại có tình trạng tràn ngập khách tham quan như bên Trung Quốc. Hình như những người lớn tuổi của nước Nhật đã tham quan di tích này từ lúc nhỏ rồi, nếu có tham quan chỉ đi lại thôi. Còn ở Trung Quốc, các di tích thường bị lấp đầy bởi người nông dân của các tỉnh xa xôi mà họ muốn đến với các thắng cảnh. Giống như cánh du lịch bụi Việt Nam chúng ta, lấy đi làm cái mốt, đi chỉ để chứng tỏ rằng mình chẳng kém gì người.

Trở lại với quá khứ của Nhật Bản, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi mối quan hệ của nước này với Trung Quốc. Một mặt thì cái ảnh hưởng ấy quá rõ và người Nhật không giấu điều này. Ai đó đã nói: “Người Nhật tìm ở Trung Hoa đức trầm tĩnh, vẻ hào hiệp và tính muôn màu muôn vẻ mà họ không thể có”. Mặt khác, suốt trong quá trình lịch sử, người ta cũng bắt gặp nỗ lực của người Nhật hướng theo cái tinh thần “trên cơ sở hoàn thiện mình, dám là mình, vui với mình và không ghen tức với người nước ngoài”. Đó lại là điều không thấy ở người Việt, văn hóa Việt.

Người Nhật làm du lịch

Những người tổ chức du lịch đã cố gắng cho chúng tôi biết được nước Nhật ở nhiều cung bậc khác nhau. Ví dụ về giao thông họ có bố trí cho chúng tôi ngoài chuyện thường xuyên ngồi trên ô tô, có lúc đi tàu thủy, có lúc đi tàu cao tốc.

Về ăn uống, ngoài những lối ăn nhanh theo kiểu buffet thì họ thường xuyên cũng cho chúng tôi vào những quán ăn tổ chức theo kiểu truyền thống. Ở đó, bọn tôi ngồi bệt xuống đất, chân đặt lên cái hố được khoét rộng chung cho cả bàn, trên bàn đặt nồi lẩu. Cái thú vị nhất đối với bọn tôi nói ra kể cũng phàm tục song cũng xin kể ra kể đây. Thú vị vì, nhìn vào cái nồi lẩu, thịt không bao giờ thiếu. Khi ăn hết, nếu cần chúng tôi có thể gọi thêm mà không phải trả thêm tiền.

Lúc đầu bọn tôi cũng lo lắng có những món ăn của Nhật không hợp khẩu vị, sau thì thấy cũng thích nghi dễ dàng.

Trong các chương trình như là thêm vào buổi chiều hôm nay, có việc chúng tôi đến thăm cửa hàng kimono. Ở đó, khách du lịch vừa có dịp tham quan cả cơ sở người ta đang dệt vải để làm ra kimono, và cũng có một buổi biểu diễn thời trang, trong đó những người Nhật trình bày cách sử dụng trang phục này.

Điều “rất Nhật” ở đây lại chính là cái bề ngoài “không chuyên nghiệp”, nó ngay lập tức gợi nên một thoáng thất vọng ở những người Việt thạo đời. Ra vào đi lại trên sân khấu lúc này không phải là những cô gái chuyên môn trình diễn thời trang, mà chỉ những người phụ nữ bình thường, tưởng như họ đang đi ngoài phố, vừa được mời vào.

Phụ nữ Nhật nói chung không đẹp, rất ít khi chúng tôi phải sững sờ cả người như khi sang Trung quốc, bắt gặp các cô gái còn chất quý phái hôm qua. Những cô gái Nhật biểu diễn thời trang ở xưởng làm và bán kimono cũng không thể gọi là đẹp. Họ trình diện trước du khách như những người thông minh, nghiêm túc, tự trọng, có sự cởi mở với người bên ngoài, mà vẫn giữ cho riêng mình đời sống nội tâm. Những bộ trang phục họ mang ra trình diễn hôm đó không phải là những hàng đắt tiền mà đám dân du lịch Việt Nam – những người đang thèm tiêu tiền — háo hức. Nhưng họ đâu có tính chuyện câu khách. Họ chỉ muốn giới thiệu một nét văn hóa Nhật.

Những dư âm của cuộc động đất

Tiếp tục câu chuyện về người Nhật trong sự so sánh với người Việt Nam. Sự kiện động đất xảy ra cách đây mấy năm vẫn còn trong kí ức người Nhật như chuyện mới xảy ra năm ngoái tháng trước hôm qua. Nhưng, chính lúc đó thì phẩm chất dân tộc của họ được bộc lộ.

Đức nói rằng ở đây đã lâu, song chính anh cũng rất ngạc nhiên vì cách phản ứng của người Nhật với động đất.

Ví dụ như, khi Tokyo mất điện, người ta đi bộ về nhà có khi đến hàng vài chục cây số, cái cửa hàng bên đường tung hàng ra để phục vụ người đi lại, mặc dù họ không có tiền. Khách sạn cho người đi đường vào ở nhà và không tính tiền.

Sau đó, tinh thần và nghị lực của người Nhật cũng bộc lộ ở việc sự nhất trí của xã hội trong việc khắc phục hậu quả tai họa. Sau động đất, nhà nước cắt điện một số vùng thì các vùng khác cũng tự động cắt theo giúp nhà nước có được lượng điện dự trữ. Khi đi làm việc, có lệnh chính phủ, công chức không dùng caravat để tránh giặt giũ nhiều, thì người thường cũng tuân theo .

Cả nước bao giờ cũng làm quá hơn so với mức chính phủ yêu cầu. Chỉ có câu khẩu hiệu nêu ra và viết trong các taxi: Nhật Bản hãy cố gắng. Mấy chữ ngắn ngủi thế thôi, mà người Nhật đã hiểu rất nhiều.

Trở lại với ý nghĩ mới hình thành trong tôi mấy ngày nay, hình như với người Việt Nam thì người Nhật ở dạng đảo ngược. Người mình sống trong sự cạnh tranh, phải lấy dối trá làm đầu khi quan hệ với nhau. Trong quan hệ với nhà nước và cộng đồng, càng trục lợi kiếm chác cho cá nhân càng tốt. Ở Nhật, giữa cá nhân và cộng đồng có niềm tin chắc chắn. Luôn luôn người ta tin rằng, những nỗ lực cá nhân của người ta sẽ được xã hội hiểu, những người tự trọng không thể làm khác.

12 – 6

Chuyện quanh những ngôi chùa

Ngày cuối cùng ở Nhật

Mấy hôm trước, chúng tôi đã đi qua những thành phố nổi tiếng của xứ sở này như Kyoto, nhưng dù thế cũng chỉ là lướt qua. Hôm nay cũng vậy, mang tiếng là được đến kinh đô cổ kính của nước Nhật là Nara, nhưng chúng tôi cũng chi được đi qua phố xá một quãng, sau đó được dẫn đến thăm ngôi chùa cổ đọc theo chữ Hán là Đông Đại Tự.

Trên đường phố Nara, bắt gặp những ngôi nhà cổ, loại nhà một tầng mà chắc chắn đã có từ rất lâu đời. Trong việc xử lí những di sản này, chỗ khác của người Nhật vẫn rất rõ. Họ có sự bố trí thế nào để những ngôi nhà cổ rộng rãi hòa hợp tự nhiên với những cao ốc hàng chục tầng bên cạnh,– việc này gợi cảm giác những người sống trong ngôi nhà cổ là những cư dân lâu đời ở đất này, có thể là họ còn giàu có nữa kia, thì mới được ở trong những ngôi nhà đó.

Còn ở Việt Nam bên cạnh những cao ốc thường khi cũng có những ngôi nhà rách nát, làm hỏng hết cảnh quan chung. Những cuộc đền bù bất minh, hoặc tâm lý thấy ai giàu có là ghen lồng ghen lộn, ì ra ăn vạ…đã là nguyên nhân làm cho cái cũ cái mới không thể chung sống hòa hợp.

Hai bên đường tới Nara, du khách cũng bắt gặp rất nhiều ngôi chùa. Đây là một địa điểm được mệnh danh kinh đô của Phật giáo, đã từng là địa điểm tổ chức Đại hội Phật giáo thế giới.

Nhưng một chuyện buồn lại bắt đầu len vào, khó mà quên được. Đức hướng dẫn viên chỉ hai bên đường và nói rằng ở đây có rất nhiều cửa hàng bán đồ dùng dành cho các nhà sư. Anh kể tiếp, nhiều nhà sư Việt Nam đa đến Nara này, và điều mà người Nhật bản xứ đã sửng sốt là những nhà sư đó đã mua những trang phục đắt tiền nhất toàn loại những nhà sư các nước khác không dám mua.

Đức có người bạn đã đi theo đoàn Phật giáo ấy, chứng kiến cảnh mua bán của các vị sư. Với thói quen của người Sài Gòn, người bạn ấy có hai phản ứng. Một là lập tức tính sẽ tổ chức những của hàng tương tự ở Việt Nam để bán cho giới tu hành hám chuyện làm dáng. Hai là nhiều lúc nghĩ không muốn thành Phật tử nữa bời vì không hiểu vì sao sư mô Việt Nam lại trần tục đến như vậy.

Một chút so sánh và cảm giác về một nước Nhật quá xa xôi

Khi đi trên đất Nhật tôi hay nhớ lại những lần đến các xứ khác.

Du lịch Trung Quốc, đối với tôi như là một chuyến trở về nguồn. Ở đó tôi nhớ không chỉ là những lâu đài tráng lệ hay những viên lâm cổ kính sang trọng – không khí như trong phim Hồng lâu mộng — mà tôi còn thấy ở đây có những mặt trái, tức cả đời sống cùng cực của người lao động bình thường.

Ở Bắc Kinh, tôi đã vào những ngõ nhỏ mà ở đó người ta , từng cụm dân trong hồ đồng, phải dùng hố xí tập thể, và con đường quanh co là những mái nhà lợp tôn, lợp ngói cổ cái thấp cái cao như những hẻm nhỏ Hà Nội. Tôi cũng thấy người ta buôn gian, bán lận, nói thách, làm hàng giả theo lối làm tiền chém du khách không tiếc tay.

Bởi Việt Nam luôn là Trung quốc bị hạ thấp hẳn xuống thu nhỏ hẳn lại cái tốt bớt dần cái xấu tăng thêm, nên tôi càng hiểu những tệ hại của xứ mình không biết bao giờ mới khắc phục được.

Ngay cả với nước Nga nửa Âu nửa Á, tôi cũng thấy điều gì đó tầm thường dung tục. Hồi còn Liên xô, đó là những đống đất xây dựng ngổn ngang ngay ngoài cửa cách hàng rào sân bay không xa; những phiên chợ nông trường lèo tèo; đám đầu trọc nghênh ngang ngoài đường. Và bây giờ ở nước Nga của Putin, cái tôi còn nhớ khi đọc các bản tin, là những làng xóm vắng vẻ, người đàn ông say rượu, những người đàn bà chỉ lo trau chuốt để bán mình cho các nhà tư sản mới nổi.

Tóm lại thì ở đâu cũng có cái gì đó gần gũi với mình.

Ngược lại, đến với nước Nhật, từ lâu tôi cũng biết là đồng văn đồng chủng, da vàng mũi tẹt, nhưng ấn tượng còn lại thì lại là một cái gì khác hẳn so với những ấn tượng đi Nga đi Trung Quốc.

Tôi thấy xã hội Nhật là một cái gì quá đồng đều và quá hoàn chỉnh, do đó là quá xa xôi, người mình không biết bao giờ mới có thể có một xã hội hợp lý như của họ.

Tình thế đó của nước Nhật toát ra không phải từ không khí sinh hoạt của đường phố mà nó thấm vào trong cách sống cách nghĩ của từng con người, cũng như lối sống rời rã, cái năng động hỗn loạn, và tâm lý bèo dạt mây trôi đã thấm vào trong cách tổ chức xã hội của người Việt.

Nhớ lại khoảng thời gian mấy năm 75-76. Quá say sưa vì chiến thắng, người mình có cảm tưởng rằng đã đánh Mĩ được thì làm gì cũng được. Tôi nhớ không phải ở người dân thường mà ở những cấp lãnh đạo cao nhất hồi ấy đã có ngưỡng vọng có ngày Việt Nam sẽ đuổi kịp Nhật. Công thức mà tôi còn nhớ như in là lời truyền miệng như thế này: “Thôi, nói 20 năm thì hơi lạc quan quá, độ 30 năm nữa thì chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật”.

Nhắc lại ảo tưởng đó để hiểu rằng, chiến tranh để đẩy chúng ta chui vào sừng trâu, và ra khỏi chiến tranh chúng ta đã xa lạ với thế giới như thế nào. Ta chẳng hiểu gì về người, mà cũng chẳng hiểu gì về chính mình.

Từ đó, trong cái thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, ta vẫn nhắm mắt mở, bước đi loạng choạng xiêu vẹo.

Trong sự vội vã điên cuồng lo làm ăn sinh sống, xã hội Việt sau chiến tranh đã trở thành một xã hội mất hết tự tin. Không ai bảo ai, không dám thú nhận, song trong thâm tâm, nhiều người chỉ còn tin rằng sẽ chẳng bao giờ chúng ta theo kịp thiên hạ. Cách sống thời thượng nhất lúc này là có cái gì bòn mót mang bán lấy tiền. Ăn cắp của nhà nước cũng được, lột da nhau cũng được, miễn có tiền. Rồi đi nước ngoài mua sắm những thứ xịn nhất, mới nhất, hiện đại nhất. Rồi lấy đó làm niềm tự hào rằng người mình cũng đang có sự tiến bộ vượt bậc theo kịp các nước trên thế giới.

Mấy năm gần đây, nhờ sự trợ giúp của phía đối tác nước ngoài, các trường đại học ở ta thường mở ra các cuộc hội thảo văn học so sánh, trong đó nhiều báo cáo của giảng viên Việt trình bày như là có một bước tiến song song giữa văn học Nhật Bản hiện đại và văn học VN thế kỷ XX, rồi bước tương đồng giữa văn học Nhật đương đại và văn học Việt Nam hôm nay. Trên một số phương diện khác của đời sống cũng vậy. Một cái gì giống như ảo tưởng đang chi phối cái nhìn người Việt khi chúng ta làm cái việc đối sánh giữa mình với người, và các đồng nghiệp Nhật vì lịch sự cũng không tiện bác bỏ. Thường những lúc nghe vậy, trong tôi có cái cảm giác xót xa như khi thấy người ta xoa đầu mình coi mình là một lũ trẻ con. Trong những ngày du lịch bụi ngắn ngủi này, cái cảm giác xót xa ấy lại trỗi dậy để mà càng cảm thấy nó một cách thấm thía hơn.

(Vương Trí Nhàn)

,

Leave a comment

[10.03.2014]

Mùa Đông Hàn Quốc (Took at Kookmin Univ.'s Concert Hall)

Thu qua, Đông đến nhẹ nhàng

Cho người lữ khách mơ màng chút Duyên ….

©

Leave a comment

Warren Buffett – Nhà đầu tư thông thái

Warren Buffett không chỉ là nhà đầu tư thành công nhất lịch sử, mà còn nổi tiếng với những lời khuyên hài hước và trí tuệ. Business Insider đã thống kê những câu nói nổi tiếng nhất của Warren Buffett qua những lần ông xuất hiện trên TV, báo chí và cả trong thư gửi cổ đông Berkshire Hathaway hàng năm.

warren-buffett-9894-1394102718.jpg
Warren Buffett được đánh giá là nhà đầu tư thành công nhất thế giới. Ảnh: Bloomberg

1. Mua cổ phiếu đừng quan tâm đến giá cả

Mua một công ty tuyệt vời với giá hợp lý tốt hơn nhiều so với việc mua một công ty vừa phải với mức giá tuyệt vời.

2. Không phải chỉ thiên tài mới giỏi đầu tư

“Đầu tư không phải trò chơi mà những người IQ 160 đánh bại được người IQ 130”.

3. Nhưng bạn vẫn phải nắm vững cơ bản

“Để đầu tư thành công, bạn không cần phải hiểu beta, thị trường hiệu quả, thuyết danh mục đầu tư hiện đại, định giá quyền chọn hay thị trường mới nổi. Thực tế là, không biết còn tốt hơn, dù đây là những môn học phổ biến tại trường. Quan điểm của tôi là bạn chỉ cần học tốt hai môn – Làm thế nào để định giá một doanh nghiệp và Làm thế nào để nhận định giá cả thị trường“.

4. Đừng mua một cổ phiếu chỉ vì mọi người đều ghét nó

“Nếu bạn chọn mua một cổ phiếu, hay một công ty chỉ vì nó ít được yêu mến, đó hoàn toàn không phải hành động thông minh. Bạn cần phải suy nghĩ chứ không chọn bừa. Nhưng thật không may, theo quan sát của nhà triết học Bertrand Russell, phần lớn mọi người thà chết còn hơn là phải nghĩ”.

5. Bạn sẽ không nhìn thấy những thứ tồi tệ khi mọi chuyện đang tốt đẹp

“Bạn chỉ có thể biết được ai đang bơi khỏa thân khi thủy triều rút mà thôi”.

6. Luôn sẵn sàng thanh khoản

“Tôi vẫn luôn cam kết điều hành Berkshire với thật nhiều tiền mặt. Chúng tôi không bao giờ muốn trông chờ vào lòng tốt của những người xa lạ để trả nợ trong tương lai”.

7. Cơ hội tốt nhất để mua một công ty là khi nó đang nguy ngập

“Điều tuyệt vời nhất bạn có thể nắm bắt là một công ty tốt gặp khó khăn tạm thời. Chúng tôi chỉ muốn mua khi họ nằm trên bàn phẫu thuật”.

8. Mua các công ty có thể có giám đốc kém năng lực

“Tôi luôn cố mua cổ phiếu các doanh nghiệp tuyệt vời đến mức một kẻ ngốc cũng có thể điểu hành được. Vì sớm muộn gì việc đó cũng xảy ra”.

9. Hãy tham lam khi người khác sợ hãi

Nhà đầu tư nên nhớ rằng sự hưng phấn và chi phí là kẻ thù của mình. Và nếu họ muốn xác định thời điểm tham gia thị trường chứng khoán, hãy tập sợ hãi khi người ta tham lam, và tham lam khi người ta sợ hãi”.

10. Không cần phải bắt lấy mọi cơ hội

“Thị trường chứng khoán không giống như bóng chày. Bạn không cần phải lúc nào cũng vung gậy, mà có thể chờ đường bóng thích hợp. Vấn đề chỉ là khi quản lý quỹ đầu tư, khách hàng của bạn sẽ luôn kêu gào: “Sao không làm gì cả thế?”.

11. Bỏ qua các yếu tố chính trị và vĩ mô khi chọn cổ phiếu

“Các dự đoán liên quan đến chính trị và vĩ mô sẽ khiến nhà đầu tư và doanh nghiệp phân tâm. 30 năm trước, chẳng ai có thể đoán được những vấn đề như tổng thống từ chức, Liên Xô tan rã hay Dow Jones giảm tới hơn 500 điểm một ngày.

Tuy nhiên, chẳng sự kiện nào khiến Ben Graham thay đổi nguyên tắc đầu tư của mình. Chúng cũng không ngăn được các thương vụ mua bán doanh nghiệp tốt với giá hời. Hãy tưởng tượng bạn sẽ mất bao nhiêu tiền nếu phải hoãn hoặc thay đổi kế hoạch đầu tư vì những nỗi sợ hãi vô danh. Trên thực tế, những thương vụ tốt nhất của chúng ta lại được thực hiện khi nỗi sợ hãi về các sự kiện vĩ mô lên đỉnh điểm”.

12. Cổ phiếu càng có nhiều giao dịch, lợi nhuận kiếm được càng giảm

“Isaac Newton đã tìm ra ba định luật chuyển động. Tuy nhiên, tài năng của ông cũng chẳng thể áp dụng được vào đầu tư. Newton đã mất cả đống tiền trong vụ cổ phiếu South Sea sụp đổ. Sau đó, nhà bác học giải thích: “Tôi có thể tính toán được chuyển động của các vì sao, nhưng không thể đo được sự điên rồ của con người”. Nếu không vì sự cố đó, có lẽ ông ấy đã tìm ra định luật chuyển động thứ 4 – Với nhà đầu tư nói chung, lợi nhuận càng giảm nếu giao dịch càng nhiều”.

13. Công ty không phải thay đổi có thể là kênh đầu tư tốt

“Các tiếp cận của chúng tôi là kiếm lời từ những gì ít thay đổi hơn là hay thay đổi. Với hãng kẹo cao su Wrigley, chính sự ổn định của họ đã hấp dẫn tôi. Tôi không cho rằng họ sẽ bị ảnh hưởng bởi Internet. Đó là kiểu kinh doanh mà tôi thích”.

14. “Nguyên tắc số 1: Đừng bao giờ để mất tiền. Nguyên tắc 2: Đừng quên nguyên tắc 1”.

15. “Wall Street là nơi duy nhất những người đi Rolls-Royce xin lời khuyên từ những người đi tàu điện ngầm”.

1 Comment

Hãy cảm ơn Mẹ không chỉ trong ngày 8/3 ….

Áo dài tặng cô ngày 8-3 từ dãi dầu của mẹ

Ngày nhỏ, cứ gần đến ngày 8-3, tôi lại nhắc mẹ nhớ mua quà tặng cô giáo. Sợ tôi mắc cỡ với bạn bè vì không có quà tặng cô, mẹ gom góp tiền từ những ngày lam lũ trên ruộng đồng để mua một bộ áo dài.

Mẹ tôi vốn là người thành phố, từ khi có chồng, cuộc đời mẹ gắn với một làng quê heo hút. Rồi các con ra đời, mẹ càng thêm quê mùa vì suốt ngày lam lũ trên đồng ruộng tất bật chăm lo cho gia đình.

Nhà nghèo nhưng mẹ luôn dành phần tốt nhất cho các con, chưa một lần mẹ dám mặc áo mới. Những chiếc áo cũ của mẹ ngày càng sạm màu hơn sau những buổi trưa hè dãi dầu trên đồng ruộng. Mẹ hay dặn: “Ráng có cái chữ để sau này không cực khổ như mẹ nghe con!”.

Trong ký ức của tôi, những dịp 8-3 mẹ vẫn vào bếp tự tay nấu ăn cho gia đình, vẫn giặt từng chiếc áo, cái khăn cho chúng con… Có lẽ mẹ chưa từng có ngày 8-3 cho riêng mình.

Ngày tôi bước vào giảng đường đại học, cuộc sống xa hoa nơi thành phố làm tôi nhớ mẹ nhiều hơn. Ngày 8-3 không có mẹ bên cạnh, tôi mới hiểu ra rằng mình đã bỏ lỡ 18 lần quên chăm sóc, yêu thương mẹ trong ngày đặc biệt ấy. Mẹ ơi, đến khi hiểu ra điều này thì con lại rời xa mẹ 4 năm để thực hiện ước mơ.

Nhưng mẹ ơi, con tin chắc rằng 8-3 năm nay mẹ sẽ có vô vàn niềm vui khi con đã trưởng thành và hiểu được tất cả nỗi nhọc nhằn oằn nặng trên vai mẹ suốt 22 năm qua. Con sẽ dành tặng những cánh hồng đỏ thắm cho người phụ nữ con yêu nhất trong cuộc đời. Con sẽ may cho mẹ chiếc áo mới mà cả cuộc đời mẹ chưa bao giờ dám mặc.

Con cũng sẽ dành tặng mẹ tấm thiệp tự tay con làm với tất cả tình yêu thương. Tấm thiệp ấy sẽ có những lời từ trái tim con:

 “Cảm ơn mẹ đã sinh con ra trong cuộc đời. Cảm ơn mẹ đã cho con được khôn lớn nên người. Cảm ơn mẹ đã yêu ba, yêu chúng con suốt cả cuộc đời. Cảm ơn mẹ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân cho gia đình bé nhỏ của chúng ta. Cảm ơn mẹ vì luôn cho đi mà không cần nhận lại. Xin lỗi mẹ vì những lúc con quá vô tâm để mẹ phải buồn. Xin lỗi mẹ vì những khi con làm mẹ khóc. Mẹ ơi, con yêu mẹ nhiều lắm, yêu chiếc áo bạc màu, sờn vai vì một đời mẹ đã mặc!”.

(Hoàng Trân)

Leave a comment

[07.03.2014]

Thu tàn,

Chiếc lá vàng lặng lẽ theo gió bay đi.

Mặt hồ dậy sóng ….

©

Leave a comment

Đáo Bỉ Ngạn


Người khách cuối ngày vẫn chưa chịu về dù ông đã từ chối cuộc viếng thăm bằng im lặng. Hắn tới “xin ý kiến anh” nhưng thật ra để thăm dò ông còn bao lâu mới chết. Mặt hắn phủ đầy bóng mây buồn bã nhưng không che giấu được tia nắng nhảy nhót trong đáy mắt khi sắp được thay ông làm giám đốc.

– Mẹ thằng Nhất!

Ông gọi vợ bằng cái giọng của đứa trẻ gọi mẹ khiến hắn phải ngừng lải nhải đứng dậy:

– Em về! Gắng anh nhé!

Lượng khách đến thăm ông giảm dần theo thời gian. Ban đầu đông như hội. Sau lác đác. Có người ông tiếp bằng nụ cười héo hắt. Có người ông nhắm mắt lại. Ông nói ít, hầu như chỉ trả lời có – không. Cái nhìn trống rỗng. Bước chân ai ra cửa cũng nhẹ nhõm vì không phải mình sắp chết. Ngay cả bà vợ tận tụy của ông giờ cũng đã quen với chuyện ông sắp ra đi, và những đứa con đến thăm đã hồn nhiên nói cười như thể việc ấy chẳng can dự gì đến cuộc sống chúng nó.

Khi mở mắt ra, ông bực mình thấy một vị khách ngồi trên chiếc ghế bên giường. Lão ta trông lạ hoắc, vào khi nào không hay.

– Mẹ thằng Nhất!
– Gì thế mình?
– Mời khách ra!
– Có ai đâu? – Bà ngạc nhiên.
– Đui à?
– Có ai đâu? – Bà lặp lại.

Lão ta vẫn ngồi trên ghế, giương mắt nhìn ông. Một gương mặt lạ lẫm, không gian hoạt, đớn hèn khúm núm hay vênh vang tự đắc như những khuôn mặt ông thường gặp mà bình lặng đến phẳng lì.

– Ông là ai?

Im lặng.
Kẻ im lặng là kẻ yếu hoặc mạnh.
Vợ ông hoảng hốt khi thấy ông không bình thường.

– Mình nói với ai thế?
– Không có ai trong phòng thật sao?
– Thật.

Ông quay mặt vào tường. Một luồng khí lạnh phả ra làm lưng ông lạnh buốt. Ông quay ra. Lão vẫn ngồi đó .

– Ông là ai? – Ông hoảng hốt.
– Bạn.
– Tôi không biết ông.

– Ta đồng hành với ngươi từ khi sinh ra. Có khi gần đến nỗi giơ tay là chạm…
– Ông là…?

– Không dám gọi tên ta ư? Có khởi đầu là có kết thúc. Không kết thúc mới là bi kịch. Mọi người sinh ra để biết nỗi kinh hoàng khốc liệt này – ai cũng phải chết. Chịu khó thôi!

Lão quét cái nhìn lạnh như nước đá lên người ông khiến ông đông cứng trong sợ hãi. Vẫn biết cái chết sẽ ập đến với mọi cuộc đời nhưng khi người khác chết, điều ấy ở ngoài ông, mơ hồ xa xôi. Giờ đến lượt ta – ông nhắm mắt lại.

Khi mở mắt, ông vẫn còn sống mà lão đã đi. Ghế trống trơn. Ông không nhìn thấy gương mặt trơ lì cảm xúc của lão nữa. Nhưng thấy nó – cơn đau lì lợm, dai dẳng, quen thuộc. Nó đang thong thả dạo bước trong xương thịt ông. Giữa nó và lão, ai dễ chịu hơn?

– Đêm bà có nghe thấy gì không?
– Thỉnh thoảng ông rên.
– Tôi mơ chuột gặm ngón chân mình và giọng ai đó hát đều đều bên tai.
– Hát gì?
– Một bài vè tôi nghe ở Đồng Tháp mấy mươi năm trước: “Cái đồ gặm nhấm. Cắn hủy cắn hoài. Mặt dạn mày dày. Cắn hoài cắn hủy…”.
– Tại tâm ông bất an đó thôi!

Giấc ngủ ông giờ cũng bệnh, đầy ác mộng. Chân dài thơm phức, ngực vun như núi hễ kéo vào lòng là da thịt nõn nường mọc lông mọc lá. Sơn hào hải vị hễ bỏ vào mồm biến thành đất cát. Những tòa nhà lẩy bẩy như âm binh không đủ ngày tháng đổ ập xuống người ông… Không ngủ, càng khổ. Tiếng chuông gọi hồn của lão cứ rõ mồn một dọc hành lang bệnh viện. Gọi ai hôm nay. Gọi ai ngày mai?

Giờ thì ông đã nhận ra lão qua những hồi chuông báo tử vọng từ xa thẳm. Có lúc chuông rung khi tiếng cười chưa dứt, cái chết xé gió mang hình nụ cười, không kịp đớn đau, kinh ngạc. Có khi cái chết đến từ mọi phía, dữ dằn gớm ghiếc, chuông gióng giả từng tràng át cả tiếng con chim sắt xé nát bầu trời, tiếng bom nổ, cây đổ, đất đá rào rào… Diện mạo cái chết khác nhau nhưng chuông gọi hồn bao giờ cũng thế. Mồn một và đĩnh đạc. Suốt ngày ông nghe văng vẳng tiếng chuông. Từ quá khứ vọng về. Hiện tại vọng đến. Nhét bông vào tai vẫn nghe.

– Tôi muốn về nhà – ông thều thào.

Vợ ông chưng hửng. Rồi chiều. Vả lại, bệnh viện ung bướu trong nước và cả bệnh viện Thái Lan đều đã lắc đầu trước lá gan mục nát. Từ khi thấy lão, ông biết cuộc chiến đấu với thần chết đã vô vọng. Tiền và sự tiến bộ của khoa học vẫn không cản được bước chân lạnh lùng của lão. Về thôi!

Kẻ đón ông cuồng nhiệt đến ứa nước mắt ngay từ ngõ là con Vàng. Nó rên ư ử như giận dỗi vì sao ông đi lâu thế, rối rít chạy theo cáng, chui tọt xuống giường, đánh đuổi cũng không chịu ra.
Lão cũng có mặt. Áo choàng đen tối hơn huyệt mộ. Cái bị bắt hồn phồng to.

– “Người này thế mà đi trước ngươi!”. Lão ngó người em họ hồng hào khỏe mạnh mới trên bốn mươi.
– “Còn gã này cũng theo ngươi – vì nhậu!”- lão chỉ tay trưởng phòng kế hoạch vừa ló mặt.

Lão vuốt con Vàng bằng bàn tay xương xẩu khiến hắn như bị điện giật sủa ổng lên: “Không thể sống thiếu chủ!”.

Căn phòng lạnh và tối hẳn khi có lão. Nắng vàng vọt. Gió lẩy bẩy. Nỗi sợ hãi làm tóc tai ông dựng đứng. Không, ông không muốn chết. Ông có trong tay mọi thứ – quyền lực, tiền bạc, những mảnh đất đẹp như mơ “ăn” từ các dự án, những em chân dài xinh như mộng…

Đúng là lão đã đi. Ông cảm thấy đỡ buốt giá. Nghe tiếng thở của con chó dưới gầm giường. Tiếng lá rơi ngoài cửa sổ. Có nhẹ nhàng không nhỉ lá ơi!
Xôn xao một đỗi rồi lặng im. Vợ ông đút cho ông vài muỗng sữa Ensure nhưng ông đẩy ra.

– Tôi muốn ăn bánh nậm bà làm!

Người vợ ngẩn người vì kinh ngạc. Ở bệnh viện về mấy hôm nay ông không ăn được, chỉ uống sữa hoặc truyền dịch, làm sao ăn được bánh nậm? Cũng dễ đã trên hai mươi năm, ông không ăn món ruột của bà. Các món bánh lá, bánh canh ấy đã nuôi sống gia đình những năm khó khăn nhất rồi bị lãng quên không thương tiếc khi cuộc sống thay đổi. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Cứ cho ổng ăn, ông ngửi những gì ổng thích còn hơn sau này cúng ruồi.

Bà tất tả đi chợ mua lá, bột gạo, tôm tươi, chuẩn bị tỉ mỉ từng chút như để tặng ông món quà cuối cùng. Đích thân bà chấy tôm, làm chả, dáo bột, gói bánh, sống lại một quãng đời cũ, vừa làm vừa chặm nước mắt. Bà biết ông sắp ra đi. Những kẻ sắp chết thường rất lạ lùng.

Mùi bánh lá hấp chín nhẹ nhàng đưa vào tận phòng người bệnh khiến ông ứa nước bọt. Đã lâu lắm rồi mới ngửi lại mùi hương thanh đạm rưng rưng của quá khứ. Xa xăm như từ kiếp trước, tiếng rao lanh lảnh của bà dội vào tim ông: “Bánh canh, bánh lọc, bánh nậm nóng hổi đây…!”.

Lúc ấy lão đến.

Lão tò mò nhìn chiếc mẹt tre mới toanh còn thơm mùi đồng nội. Trên mẹt để đĩa bánh lá sắp theo hình rẽ quạt, châu đầu vào quả ớt đỏ tỉa hoa. Đầu mỗi chiếc bánh đội một miếng chả tôm hồng nhạt cắt theo hình trăng khuyết trông như chiếc vương miện. Chén nước mắm vàng nhạt trong vắt điểm mấy lát ớt đỏ thắm. Đúng kiểu quà Huế, thanh đạm mà tinh tế. Bà đỡ ông ngồi tựa vào gối, mở lòng lá bánh nóng hôi hổi, xắn đút cho ông từng mẩu nhỏ như đút cho em bé.

– Ăn cái cho biết! Không ai qua mặt bà ấy về món này – Ông buột miệng mời.
– Mình nói với ai thế?
– Với tôi.

Lão nhón một miếng chả tôm hình trăng khuyết bỏ vào cái mồm tối thui không răng, say mê nhóp nhép.

Thấy lão ăn ngon lành, ông thều thào:

– Chả…

Kệ, thích cứ chiều. Bác sĩ bảo không còn hy vọng nữa. Bà tự nhủ rồi xắn đút cho ông mẩu chả tôm nhỏ. Ông ngậm trong miệng nhưng mùi cuộc sống vẫn không đánh dạt vị ốm đau nhàn nhạt. Đắng nghét.

Lão vừa đi. Ông nôn thốc nôn tháo.

Ông đối mặt với cái chết đang nhích lại gần với vẻ tò mò. Ông từng chứng kiến nhiều cái chết – nóng hổi, tươi rói, dịu dàng, bạo liệt… Với ông, lão sẽ múa lưỡi hái như thế nào?

Một người bạn năm xưa tới thăm, khuyên ông tập thở bụng. Phình bụng hít vô. Thóp bụng thở ra. Gác mọi phiền não, chỉ kiểm soát hơi thở vào ra để biết mình đang sống. Khi cơn đau quen thuộc bên sườn trỗi dậy, lì lợm, bướng bỉnh, ông làm theo bạn, chuyên chú vào nhịp thở. Hớp một ngụm không khí, đẩy vào tận ngóc ngách, đối đầu với cái đau và có khi đánh dạt được cả nó. Đúng là gần chết mới biết thở. Gần chết mới nhận ra cái đẹp lạ lùng của trần gian mà mình sắp xa lìa. Cây bàng bên bờ tường đối diện cửa sổ phòng ông ở đấy từ lâu mà tâm hồn hoang mạc của ông có bao giờ nhìn thấy? Giờ nằm đợi chết mới có dịp ngắm. Sắc vàng nâu trầm tĩnh chuyển qua đỏ lộng lẫy như trút hết sinh lực đẹp lần cuối rồi nhẹ nhàng lìa cành để nhường cho chồi biếc, mầm non. Kết thúc cái này là để bắt đầu cái khác… Không kết thúc mới là bi kịch. Lão đã bảo thế.

Cái chết xâm chiếm ông từng ngày, nhưng cũng theo từng ngày, một mầm sống khác lại quẫy cựa, trồi lên. Dường như có một thằng bé chui ra từ hình hài mục ruỗng của ông, đái lên trái tim khô của ông làm nó ướt đẫm. Hắn dẫm lên tâm hồn băng giá của ông khiến băng tan chảy thành buồn thương, xấu hổ. Hắn nhìn mọi thứ bằng cặp mắt ngạc nhiên và lạ lẫm. Hắn nhảy nhót và hát: “Ta bị nhốt quá lâu. Trong tấm thân máu lộn mỡ. Trong cái đầu ma quái. Đầy mưu ma chước quỷ. Trời xanh trong thế này ư? Hoa đẹp thế này ư?…”.

Ông khước từ mọi thăm viếng, quà cáp. Chiến đấu với đớn đau bằng sự dũng cảm và trầm tĩnh. Trên gương mặt in dấu thần chết, đôi mắt lại sống, da diết thiết tha. Sự bình thản của ông làm bầu không khí nặng nề của ốm đau chết chóc vơi nhẹ. Ngôi biệt thự mang dáng dấp một mái nhà bình yên. Không tiếng đóng sập cửa xe, tiếng giày nện quyền uy, tiếng quát tháo, tiếng thì thầm xin xỏ, biếu xén. Cổng đóng. Chuông điện tắt. Cây cỏ im lặng xanh. Con Vàng gần như túc trực trong phòng. Hơi thở của nó hòa với hơi thở người bệnh, và ông lắng nghe với sự thương cảm.

Gần chết ông mới hiểu tấm lòng của một con chó. Hắt hủi, quát tháo mà vẫn lăn xả vào thương. Gần chết mới biết dịu dàng với người vợ hiền tận tụy. Dịu dàng đến nỗi bà khóc một cách âm thầm. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Bà không còn nhận ra ông trong những ngày này. Ai đó đã nhập vào người chồng độc đoán của bà, người mà mỗi cái liếc mắt, quát tháo, ra lệnh đều thể hiện quyền lực tối thượng của một chủ nhân ông. Người đã chê bà già rồi, không xứng đầu ấp tay gối, không xứng cùng đi, không cùng chia sẻ… Người ấy hôm nay lại cầm tay bà, dịu dàng săm soi bàn tay đầy vết chai sần, lổm ngổm gân xanh. Cái nhìn day dứt, ấm áp…

– Sao bà không sai bọn nó, tự làm chi cho khổ?
– Người khác làm sao tôi yên tâm. Chỉ tôi mới thành thuộc những gì ông thích.
– Bà có oán tôi không?
– Tôi chỉ ước mình đau thay ông. Đàn bà chịu đựng giỏi hơn đàn ông.
– Người ta chỉ được sống một lần, sai không làm lại được.
– Cũng có thể chết và sống lại trong từng khoảnh khắc, ông à! Lúc này ông cũng đang sống lại đó thôi. Ông như ông ngày xưa, của tôi…

Người đàn ông mạnh mẽ, quyền uy giờ bất lực, yếu ớt như một đứa trẻ và hoàn toàn của bà. Bà bón cho ông từng giọt sống, vỗ về ông khi đau, lau mình mẩy ông nhẹ nhàng như lau em bé – tẩn mẩn từng vết sẹo, từng nốt ruồi, nốt ghẻ thân thuộc.

– Có bà bên tôi, cái chết bớt đáng sợ hơn. Da tôi vàng thêm nhưng hồn tôi thì xanh lại, phải không? – Có. Xanh ngắt – Bà nhìn sắc da vàng nghệ, ứa nước mắt.
– Bà lại khóc! Đừng khóc! Những phút quý giá này đừng dành cho nước mắt… Này, bà mua cho tôi một con chó cái…
– Làm gì?
– Để con Vàng có bạn, khuây khỏa. Có những con chó chủ chết nó nhịn ăn chết theo bà à! Nó thương tôi lắm đó!

Nghe nhắc tên, con Vàng đang nằm dưới chân đứng dậy vẫy đuôi kêu ư ử…

Lão tạt qua, ngạc nhiên thấy ông có vẻ nhẹ nhõm, bình tĩnh. Lão bảo: “Tốt. Chết cũng phải học. Quẳng hết. Về tay trắng. Giờ ngươi như đứa trẻ tập đi, phải tự bước, không ai bước thay. Đừng sợ ngã. Không ngã nữa. Chỉ bay, nếu nhẹ như hạt bụi”.

Và ông đã bay trong những cơn mê. Tấm thân nặng nề khi quẳng hết hỉ nộ ái ố, thoát khỏi những trò chơi khốc liệt của cuộc đời, nhẹ như phù vân. Ông bay vào những đám mây xốp màu sáng bạc, màu của hư vô bát ngát. Tắm gội linh hồn thanh sạch bằng tiếng ngân dài bay bổng của sơn ca, giọng rừng nguyên thủy mang theo tiếng suối reo, thác đổ của chích chòe lửa. Bay qua tán rừng xanh lục, nơi ông gửi lại một chặng đời trong trẻo tươi xanh khi lòng còn tinh khôi chưa lốm đốm u sần của tham vọng gian dối. Tuổi trẻ ông nhìn ông xa lạ còn đồng đội không nhận ra ông. Họ nằm lại giữa màu xanh và tiếng chim, linh hồn nhẹ như mây, làm sao nhận ra cái lão bụng phệ ăn đất và sắt thép này là anh chàng thủ kho xanh rớt ngày nào sẵn sàng ăn sắn nhường cơm cho đồng đội?

Ông bay qua nơi mình tạo ra dâu bể – khách sạn, nhà hàng, quán nhậu mọc như nấm sau mưa trên dải đất trước kia là thôn xóm, ruộng vườn yên ả. Những ngọn lúa, ngọn rau bị vùi dưới lớp xi măng cốt thép ngóc dậy nhìn theo. Bay qua hội chợ phù hoa – phòng VIP, rượu ngoại, cờ bạc, chân dài như ngọn lửa dịu êm thiêu đốt nhân cách và làm mục nát lá gan mình.

Ông đảo lại lần cuối trên tòa nhà ba tầng, công ty xây dựng và phát triển nhà ở. Phòng giám đốc, hắn ta đang ngồi. Hắn có ngồi tù thay ông, kẻ hạ cánh an toàn xuống cái chết? Ông cố tìm trong lô xô, bé tẹo dưới kia những mảnh đất mình “ăn” qua các dự án nhưng tất cả như những mảnh ghép hình trong thành phố đồ chơi. Người ông chợt sà xuống như diều đứt dây và ông nghe lão quát: “Về thôi!”.

Ông rơi vùn vụt xuống hố thẳm không đáy, muốn mở miệng kêu mà không kêu được. Thân xác này không còn của ông nữa. Nó đã bị cái chết xâm chiếm. Ông nghe vẳng vẳng tiếng khóc gào, tiếng tụng niệm. Thấy mình bị nhấc bổng lên và tiếng lão dõng dạc hô to: “Đáo bỉ ngạn !”(*)

Theo ước nguyện sau cùng của người đã khuất, di chúc mở ra có sự chứng kiến của gia đình và đại diện chính quyền. Trong đó có đoạn:

“Đến cuối đời tôi mới nhận ra lương tâm là quyền lực lớn nhất. Dưới quyền lực ấy, tôi xin để lại cho vợ và hai con những gì do sức lực, trí tuệ mình làm ra trong mấy mươi năm gồm…

Xin trả lại những gì do mưu ma chước quỷ tôi chiếm đoạt được gồm…

Xin tha thứ cho tôi…”.

Vừa qua giỗ đầu, thằng Nhất bảo:
– Mẹ bán nhà chia cho tôi! Nhà này tôi cũng có phần.
– Bán rồi ở đâu?
– Ra nghĩa địa mà hỏi ổng. Trâu chết để da, người ta chết để của. Tự dưng đem khai ra rồi đem trả. Ngu! Cha mẹ ngu thì con khổ! Tui còn sống là còn oán ổng. Vì ổng mà con cái xuống đời! Người ta ăn đầy ra đó có ai tự nguyện trả đâu! Miếng đất ở ngã tư giờ phải mấy tỉ, nếu xây khách sạn ba sao tui đâu có thành thằng ma – cà – bông! Còn miếng ở khu trung tâm, xây nhà hàng cho con Thanh làm chủ, hắn đâu có đi làm cực khổ mà lương chỉ hơn triệu bạc. Cha mẹ ngu con mới khổ!… Ngu! Ngu! Đại ngu!

Cứ rượu vào là cậu quý tử đem chuyện ấy ra nhấm nháp, liên miên…
Bà nuốt nước mắt ngước nhìn trời. Bà tin đám mây trắng nhẹ thênh bay ngang qua nhà là ông. Hình hài tan rã, tham sân gửi lại, chỉ còn linh hồn lãng du theo mây trắng.
Từ khi ông mất, bà bỗng sinh chứng nhìn mây, nói với mây, khóc với mây. Chuyện con cái xâu xé nhau của cải. Chuyện chúng đã quen làm cậu ấm cô chiêu, tiêu xài như nước, gì cũng có người lo sẵn, giờ không tự đi được.

“Bay đi ông ơi! Đừng nhìn! Đừng nghe!”, nhưng giọt nước mắt vô hình vẫn nhỏ trúng tâm hồn bà. Bà thì thào: “Ông khóc đó ư?”.

Năm sau ngôi nhà vườn tuyệt đẹp biến thành quán Hương Huế chuyên bán bánh nậm, bánh lọc, bánh bèo, bánh canh. Khách ngồi dưới bóng cây râm mát, ăn những món dân dã nóng hổi, trình bày tinh tế đẹp mắt. Bánh nậm xếp theo hình quạt, mười cái một dĩa. Mở lòng mỏng mảnh, phơi dạ trắng ngần, điểm nhụy tôm hồng, chấm nước chấm ngọt thanh, ăn kèm chả tôm cắt hình thoi, xếp thành đóa hoa vàng, đưa đũa lên, cứ tần ngần vì quá đẹp. Dĩa bánh ướt nhụy tôm cũng mười cái, uốn cong thành mười cánh hoa. Bánh bèo chén để trên mẹt tre, rắc nhụy hồng, điểm tóp mỡ giòn, ăn bằng chèo tre vót mảnh… Bắt mắt nhất là tô bánh canh Nam Phổ. Tô nhỏ để vừa say, chưa ngán, hòa quyện tinh tế sắc màu và hương vị. Rẻ, ngon, đẹp mắt, lịch sự, khách vô ra quán nườm nượp, làm không kịp bán.

Cuối ngày, khi xong việc, bà lại thắp lên bàn thờ ông một cây nhang, thì thầm kể chuyện: “Hôm nay thằng Nhất có phụ tôi đôi chút ở quán! Nó hết đòi bán nhà rồi! Tôi đang tập cho nó đi. Khi nào nó bước đi vững vàng rồi, tôi sẽ về với ông, ông ơi…!”.
Tàn hương uốn cong như lời đáp. Đốm lửa như mắt người, lung linh đỏ, đỏ lung linh…

(*) Đáo bỉ ngạn: Tới bờ bên kia

(Quế Hương)

Leave a comment

[06.03.2014]

Thu về mới chỉ hôm qua,
Nhưng nay thu đã bỏ ta đi rồi.
Trông thu với những bồi hồi
Xa thu với những mộng đời còn nguyên.

©

Leave a comment