Archive for category My World

[12.09.2016] All I Ask Of You ….

Leave a comment

[07.07.2016] River flows in you ….

Leave a comment

Thư tháng giêng ….

Một ngày dài, vô vị và mệt mỏi. Tất cả dường như chỉ muốn làm ta nản lòng, trừ một điều, chỉ duy nhất một điều thôi. Lang thang qua mấy trang web vô bổ và linh tinh, tình cờ đọc được những dòng thư thật lãng mạng. Chỉ thấy, tình yêu của họ thật đẹp biết bao!

Xin mây trắng hãy thôi trao cho nhau những ái ân không màu ….

gui-thang-gieng-5

Mùa đông đã ăn mòn già nửa tháng Giêng. Nắng ấm vẫn còn xa lắm. Em viết thư gửi cho anh từ Hà Nội một ngày lạnh tê từng đốt ngón tay….

Anh à!
Tháng Giêng năm nay về cùng với những đợt gió mùa cắt cứa. Em thường thu cả hai bàn tay vào trong ống tay áo giống như anh từng làm mỗi lần dọa ma em ngày trước. Và cũng như tháng Giêng năm ngoái, em đeo cả tất đi ngủ. Sáng ra hai bàn chân vẫn lạnh ngắt. Nhưng anh yên tâm, em không bị ốm đâu, vì mùa xuân sắp về rồi.

Tháng Giêng những vùng ven đô Hà Nội tràn ngập màu vàng của hoa cải. Đã bao lần em định đi chụp hình để khoe với anh nhưng lại sợ anh nhớ nhà nên thôi…. Em chờ anh về nắm tay đi giữa những luống hoa rực rỡ để thấy hạnh phúc giản đơn là được đi bên người mình yêu thương nhất.

Tháng Giêng – mùa giáp Tết, mọi nhà đều sửa sang lại để chuẩn bị đón năm mới sắp đến. Không khí nhộn nhịp lắm. Em đã thấy quất Ngũ Xá chín vàng từng trái. Đào Nhật Tân cũng đã hé những nụ hồng. Thương lắm khi biết bên ấy giờ này chỉ toàn là tuyết trắng. Và thương lắm ánh mắt mỏi mòn trông về Hà Nội xa xôi ….

Tháng Giêng đã có những đợt mưa lất phất tiếp thêm sức mạnh cho những mầm chồi bung ra. Em đi trong làn mưa bụi, ngửa mặt lên trời và ước mùa xuân năm nay thật ấm để cây sớm xanh lại những tán lá xum xuê và mùa quả ngọt trĩu nặng đón anh về. Anh đã hứa rồi… đã hứa là sẽ trở về, năm nay.

Tháng Giêng này Hà Nội làm đại lễ đón chờ 1000 năm Thăng Long. Chỉ còn 1000 ngày nữa thôi…. anh. Đồng hồ đếm ngược đang dần rút ngắn thời gian, cũng như em, ngày càng gần anh, gần lắm. Anh sẽ kịp về để đón lễ hội phải không anh?

Em đang đi trong những ngày cuối cùng của tháng Giêng, những ngày cuối cùng của một mùa giá lạnh. Em biết, Xuân sẽ đến rộn ràng. Ở nơi xa ấy, anh hãy cùng đón những tia nắng đầu tiên của mùa xuân với em, anh nhé!

Leave a comment

12 cung Hoàng Đạo – Virgo: Xử Nữ (24/8~23/9)

Từ ngày 24/8 đến hết ngày 23/9 mặt trời đi qua chòm sao Virgo – tiếng Latin nghĩa là Xử Nữ, Trinh Nữ. Hợp với nghĩa đó, đa số người sống độc thân hoặc muộn màng chính là sinh ở cung này. Nhưng một khi đã lập gia đình, Xử Nữ làm tròn bổn phận của mình với lòng tận tuỵ hiếm có

Rất dễ nhận dạng Xử Nữ giữa mọi người khác, trước hết vì tính cách hoàn toàn không phô trương, không ồn ào, nhiều lời, họ luôn có một phong thái đặc biệt. Bạn luôn nhận thấy trên nét mặt Xử Nữ một sự đăm chiêu, suy tư. Vẻ như người đó lúc nào cũng đang suy nghĩ căng thẳng – và điều đó hoàn toàn phù hợp sự thực.

Một Xử Nữ điển hình là người có thân hình mảnh mai, cân đối (nếu, dĩ nhiên, không bị di truyền bởi bậc cha mẹ có thân hình to đậm), với đôi mắt đẹp và thông minh. Mắt của Xử Nữ thường trong sáng đến nỗi bạn có thể nhìn thấy hình ảnh mình trong đó như nhìn vào gương. Đa số họ duyên dáng và hấp dẫn, mặc dù đôi khi thoáng qua một nét phù phiếm. Họ khá quan tâm đến hình thức của mình. Nếu lẳng lặng quan sát Xử Nữ, bạn sẽ thấy họ hay soi gương, nhất là vào những lúc không có ai xung quanh. Xử Nữ rất coi trọng trang phục.

Phần lớn Xử Nữ không cao, hơi cơ bắp, sức bền thể chất tốt hơn là người khác cảm tưởng sau cái nhìn ban đầu. Họ có sức chịu đựng công việc trí óc cường độ cao hơn mọi người thuộc cung Hoàng đạo khác (tuy nhiên cũng cần đề phòng căng thẳng thần kinh).

Mặc dù phong thái của Xử Nữ thường bình lặng và thậm chí lãnh đạm, nhưng đó chỉ là vẻ ngoài, che giấu những diễn biến nội tâm mạnh mẽ. Thay vì biểu lộ những cảm xúc, họ lại dồn nén chúng vào bên trong – điều thường làm ảnh hưởng tới sức khoẻ, trước hết là tới chức năng tiêu hoá và hệ thần kinh.

Xử Nữ rất chân thành trong mọi biểu hiện của mình, họ là những người rất đáng tin cậy. Tuy nhiên trong trường hợp không muốn làm gì đó hoặc đi đâu đó, họ cũng có thể viện cớ ốm. Đó là lúc khả năng nghệ sĩ của Xử Nữ thức dậy.

Xử Nữ rất cẩn trọng và khắt khe trong ăn, mặc, công việc, tình yêu và quan hệ bạn bè. Họ đặc biệt quan tâm chăm đến sức khoẻ của mình. Trí tuệ của họ tỉnh táo đến mức họ không bao giờ có ảo tưởng, thậm chí cả khi đang yêu. Họ không nhìn đời qua cặp kính màu hồng, họ nhìn rõ cả ưu điểm lẫn nhược điểm của người mình yêu cũng như tính chất quan hệ của mình với người đó.

Đa số Xử Nữ có một trí thông minh sắc bén và thâm hậu (đặc biệt nếu bạn nhận bắt được ý giễu cợt thường có trong câu nói của họ).

Tuy không thể nói Xử Nữ là những người mơ mộng viển vông, vẻ ngoài của họ nom lãng mạn cứ như vừa từ trên trời rơi xuống. Khi bị khó chịu bởi sự thô tục, ngu dốt hoặc cẩu thả, Xử Nữ có thể gắt gỏng, càu nhàu. Nhưng đa phần thời gian, nhờ tính cách bình thản, thăng bằng của mình, họ là những người rất dễ mến khi tiếp xúc. Họ rất có ích cho các bệnh nhân và người cùng khổ. Những phụ nữ từ thiện nổi tiếng nhất đều sinh ở cung này. Họ bao giờ cũng đầy cảm thông và cứu giúp. Nếu bạn bị nhức đầu, Xử Nữ không chậm chễ chạy đi mua thuốc. Nếu đúng khi đó bạn đang ở nhà Xử Nữ, người đó không cần phải chạy ra hiệu thuốc, vì tủ thuốc ở nhà đã đầy đủ mọi thứ cho mọi sự cố. Hơn thế, Xử Nữ còn biết thuốc có những hợp chất nào, công dụng của nó, và liều dùng ra sao.

Mỗi khi đi xa, Xử Nữ thường chu đáo mang theo túi thuốc men, và cả loại kem tắm mà mình quen dùng, vì ở nơi kia nhỡ đâu không có loại đó. Điều này còn có nguyên nhân kinh tế của nó: Xử Nữ hiếm khi mua lẻ một bàn chải răng hay một bánh xà phòng, mà phải cả lô, hay chí ít cũng một chục – như thế rẻ hơn.

Thói quen đối với Xử Nữ – là cái gì đó rất bền vững, được thiết lập một lần cho mãi mãi. Nếu một Xử Nữ có thói quen để áo lót ở ngăn bên trái tầng giữa của tủ quần áo, thì khi đến khách sạn trong chuyến đi công tác, người đó nhất định sẽ để chúng vào đúng chỗ đó. Còn nếu chỉ có một ngăn để quần áo, điều đó sẽ gây ra một phút bối rối. Sau một lát suy nghĩ, người đó quyết định trong tình huống bế tắc như vậy tốt nhất cứ để lại áo lót trong vali.

Xử Nữ có thể triền miên góp ý, nhắc nhở bạn về những sơ xuất dù là nhỏ nhất (điều dễ làm cho bạn phát điên). Nhưng khi thấy bạn gặp khó khăn, Xử Nữ cũng không chậm chễ giúp đỡ. Nếu công việc của bạn bề bộn và nặng nhọc, đến nỗi cảm tưởng sắp gục ngã, đừng do dự nhờ cậy Xử Nữ. Và người đó sẽ xắn tay áo, lao vào công việc, quyết giúp bạn vượt qua tai hoạ. Thậm chí không cần bạn ngỏ lời xin giúp đỡ. Xử Nữ không thể chịu đựng được sự hỗn loạn, lập tức tìm cách lập lại trận tự hoàn hảo. Tính cách này có nguồn gốc từ tầng bản năng của người đó. Xử Nữ đến làm khách, thường vui vẻ giúp gia chủ dọn rửa bát đĩa sau khi thực khách đã ra về.

Xử Nữ khác hẳn mọi người ở tính không thể ngồi lâu một chỗ. Chỉ được một lúc là người đó lại đứng lên đẩy ghế, đi lại trong phòng, toàn bộ dáng vẻ cho thấy là không có thì giờ vì đang bận nhiều việc cấp bách. Lúc đó, Xử Nữ vẫn giữ nét mặt điềm tĩnh, không nao núng. Dù bạn có cố tình cũng không thể làm cho Xử Nữ bộc lộ cảm xúc thái quá.

Làm những việc hảo tâm, Xử Nữ không mấy khi nhận quà đáp lại. Nguyên do là họ không muốn bị lệ thuộc vào ai. Họ rất thích sự độc lập. Nỗi lo sợ bị lệ thuộc, nhất là ở người luống tuổi, làm cho nhiều Xử Nữ có tính tiết kiệm. Tuy nhiên, khi Xử Nữ vững tin vào sự độc lập kinh tế của mình, họ có thể chi tiêu phóng khoáng.

Xử Nữ khinh thường thói ngửa tay xin xỏ, sự nghèo hèn, nhưng Xử Nữ không chần chừ đến giúp bạn bè gặp hoạn nạn. Xử Nữ không bao giờ ném tiền qua cửa sổ, bởi vì đồng tiền họ kiếm được không phải dễ dàng. Do vậy họ không bỏ qua những khi cần nhận xét gay gắt với những kẻ lười biếng, ăn bám.

Không nên trách Xử Nữ có thiên hướng phê phán, bởi vì người đó phê phán bản thân cũng không ít hơn. Bằng trí tuệ sắc bén của mình, người đó phát hiện thấy những thiếu sót dù là nhỏ nhất trong công việc, trong quan hệ giữa mọi người, và nói chung trong cuộc sống. Xử Nữ không chịu đựng được sự trễ giờ. Người đó tin chắc rằng đó là sự phung phí một cách vô nghĩa quỹ thời gian quý giá của cuộc đời. Vậy, theo nhà chiêm tinh Linda Goodman, nếu bạn không muốn giận nhau với Xử Nữ, hãy cố gắng đúng giờ.

Mặc dù hay góp ý người khác, Xử Nữ không thể chịu được khi người ta góp ý cho mình. Nếu hoàn cảnh xô đẩy bạn phải chê trách Xử Nữ (chỉ nên làm khi không còn con đường nào khác), hãy cố thể hiện sự mềm dẻo và tế nhị nếu không muốn làm hỏng quan hệ với người đó.

Xử Nữ là những người khoẻ mạnh thiên phú, nếu như họ không tự hại sức khoẻ bởi làm thần kinh căng thẳng, làm việc quá sức, hoặc bi quan. Xử Nữ rất chú ý ăn uống bổ dưỡng, chăm sóc cơ thể. Nhưng cũng như mọi người trần mắt thịt khác, họ có một số bệnh thường gặp, ví dụ như: rối loạn tiêu hoá, đau đầu, đau khớp chân tay, vai, thắt lưng. Nhưng nhìn chung, nhờ sự qua tâm thường xuyên đến sức khoẻ, Xử Nữ rất ít khi đau ốm nghiêm trọng.

Xử Nữ thích mèo, chim cảnh và các con vật bé nhỏ khác. Không kém thế, mà có thể nhiều hơn thế, Xử Nữ thích sự chân thực, đúng giờ, cẩn thận, minh mẫn và tính chọn lọc trong quan hệ. Họ căm ghét kiểu lãng mạn nước bọt, thói ở bẩn, thô tục, bê tha và lười nhác. Xử Nữ là những người rất cá tính, thực tế, rành mạch, với cảm nhận tinh tế về cuộc sống, hoàn toàn xa lạ với những đam mê dung tục và cuồng dại.

Xử Nữ rất hợp với nephrite (một trong hai khoáng chất làm nên ngọc bích) màu xanh lục lạnh. Còn bạch kim – là kim loại mang lại hạnh phúc cho họ.

Đàn ông cung Xử Nữ

Nếu bạn là người lãng mạn, đang mơ ước một tình yêu thần tiên, bạn cần chia tay ngay với anh chàng cung Xử Nữ mới quen. Nếu không, thay vì món lẩu mười thức nhúng với đủ vị ngọt bùi chua cay, bạn có nguy cơ nhận được một bát mỳ ăn liền lào phào mà một nhà ẩm thực sành điệu không thể chấp nhận được

Đàn ông Virgo tồn tại hoàn toàn trong sinh tầng thực tiễn và biện chứng. Đơn giản là chàng không có thời gian dành cho những đam mê trên mây. Chàng chắc chắn không phải loại người đến dưới cửa sổ nhà bạn để hát tình ca cho cả phố biết về những thổn thức mà chàng dành cho bạn.

Thực ra Xử Nữ có cảm xúc yêu đương rất sớm, từ thời niên thiếu, nhưng đó không phải là sự si mê bất tử kiểu Romeo và Juliet. Khái niệm “tình yêu” của chàng đồng nghĩa với sự tận tâm vì gia đình, vì bạn bè, và nói chung vì những ai yếu đuối hơn, thiếu nề nếp hơn bản thân chàng.

Tình yêu bày tỏ với chàng bằng những hẹn ước nồng say, hành động cuồng nhiệt, hay những thì thầm ngọt ngào – không làm chàng xúc động. Ngược lại, cảnh đó có thể làm chàng phát hoảng và rút chạy. Nhưng nếu “tiểu thuyết” của bạn diễn ra với độ nóng vừa phải, có thể bạn sẽ lay chuyển được cảm xúc của con người dường như làm bằng băng đá và sắt này.

Trong tình yêu, Xử Nữ chú trọng trước hết là chất lượng chứ không phải số lượng. Nhưng chất lượng cao là thứ hiếm, cho nên trong cuộc sống của đàn ông cung Xử Nữ rất ít chuyện tình, và những chuyện tình đó dù có xảy ra cũng cũng đa phần không được nồng thắm.

Theo bản năng, Virgo hướng tới sự trinh trắng, và chàng chỉ có thể từ bỏ nguyên tắc đó vì một người phụ nữ xứng đáng. Nhiều đàn ông Xử Nữ (dù không phải tất cả) có thể sống nhịn dục lâu hơn nhiều so với các cung khác mà không thấy khó khăn. Tính tuân phục số phận bắt rễ sâu trong ý thức đàn ông Xử Nữ. Và nếu số phận muốn chàng mãi sống độc thân, thì nghĩa là chàng sẽ như vậy.

Đàn ông Virgo là kẻ quyến rũ rất tinh tế, cho dù chàng có thể không ý thức về điều này. Sự kết hợp giữa tính hài ước và tư duy hợp lý của chàng hấp dẫn rất nhiều phụ nữ. Nhưng bản thân chàng, vốn là một chuyên gia chỉ trích người khác, ít khi bị lôi cuốn đến mức chuyển từ quan hệ thuần tuý tinh thần sang quan hệ trần tục hơn. Để chàng bốc lửa yêu đương, đối tượng của chàng phải thực sự độc đáo.

Đàn ông Virgo dành rất nhiều thời gian vàng ngọc của mình cho việc tìm kiếm bạn đời – không ít hơn dành cho ăn uống, quần áo, sức khoẻ và công việc. Bởi vì mọi thứ đó đối với chàng đều rất nghiêm túc. Đừng hòng nói dối chàng, đằng nào chàng cũng nhìn xuyên thấu bạn, không có ảo tưởng. Chàng khao khát một liên minh chung thực và bình đẳng. Chàng hiểu rõ, tìm được đối tượng tình yêu phù hợp với những tiêu chuẩn của mình là điều rất khó khăn. Dẫu thế, chàng không đời nào chấp nhận trường hợp “đỗ vớt”.

Rất khó lôi cuốn đàn ông Virgo bằng tình cảm. Có khi chàng ở bên bạn hàng giờ mà không có lấy bất kỳ một dấu hiệu tình cảm nào hết, và bạn phải cho rằng, đơn giản là chàng không có tim. Thực ra không phải như vậy. Chàng có tim. Và người đàn bà nào có đủ kiên nhẫn sẽ chứng kiến điều đó.

Một khi nhận ra rằng bạn đích thực là người chàng lựa chọn, chàng lập tức cho bạn biết. Tình yêu của chàng sẽ cháy bằng ngọn lửa đều đều, mềm mại, không bùng loá như các cung khác, nhưng hơi nóng của nó đủ để sưởi ấm bạn trước những băng giá và sóng gió của cuộc đời. Chẳng nhẽ nhưng thế còn ít sao?

Khi bạn trở thành vợ, chàng sẽ không để bạn phải ghen tuông, không ve vãn các cô khác. Khi bạn đau ốm hay có điều buồn phiền, không ai có thể là người an ủi, giúp đỡ tốt bằng chàng. Tuy chàng không rắc tiền lên đầu bạn, nhưng bạn luôn được đảm bảo để không có khó khăn về vật chất.

Đàn ông Xử Nữ rất quan tâm đến những điều nhỏ mọn mà đàn bà lại coi là có nhiều ý nghĩa. Nhờ trí nhớ rành mạch của mình, chàng nhớ hết các ngày tháng và sự kiện của bạn, cho dù chàng có hơi thắc mắc tại sao chúng lại quan trọng với bạn đến vậy. Đàn ông Virgo không bao giờ làm những pha ghen tuông dã man. Nhưng bạn không được quên rằng Virgo là kẻ nặng đầu óc sở hữu, do vậy, hãy cố gắng đừng “dạo chơi” quá xa nhà, kẻo một ngày kia trở về, bạn bỗng thấy chẳng còn ai ở đó. Đàn ông Virgo thiên bẩm xa lạ với ý nghĩ phá bỏ tổ ấm gia đình, nhưng nếu bạn đi quá xa, chàng sẽ ly dị không lôi thôi. Không có cảnh lồng lộn, van xin, nước mắt, làm lành. Hết là hết. “Sorry – goodbye”.

Nếu đã yêu người đàn ông Virgo, bạn còn cần phải chú ý về những gì bạn nói. Chàng căm ghét sự ngu đần, dốt nát không kém gì sự bẩn thỉu, thô tục. Bạn gái của người đàn ông Xử Nữ cần có không chỉ một mái tóc thật đẹp, mà còn một cái đầu thông minh bên dưới nó. Người đàn bà vụ lợi, đần độn, lười biếng, cho dù thuộc hạng “trái bom sex”, cũng không bao giờ đạt được thành công trong quan hệ với đàn ông Virgo. Chàng tìm kiếm ở vợ trước hết là một người bạn, chứ không phải một người tình.

Đàn ông Xử Nữ không có nhiều ham muốn làm cha. Họ hoàn toàn không cần đến con cái để khẳng định tính cách đàn ông của mình. Vì thế, gia đình của Xử Nữ thường không lớn. Nếu đã có con, chàng hứng thú đưa chúng đi chơi, giúp làm bài tập, dạy chúng nhiều điều, đặc biệt thiên về phát triển trí tuệ của chúng. Tuy nhiên, có thể chê trách Virgo nói chung khá thờ ơ với con cái, điều mà theo năm tháng lớn lên có thể biến thành bức tường thiếu hiểu biết lẫn nhau.

Người chồng Virgo rất thích khi nào bạn chăm lo sức khoẻ của chàng, và từ phía mình chàng sẽ trả lại bạn đúng cái giá như vậy. Đôi khi Virgo có tâm trạng càu nhàu thái quá. Những phút đó, cứ để mặc chàng càu nhàu một mình, rồi sau qua đi, chàng sẽ đến bên làm bạn ngạc nhiên về sự dịu dàng của mình. Cứ để chàng quan tâm đến bạn, điều đó không trái với tính cách chàng, và làm chàng hài lòng.

Nếu sau tất cả những điều kể trên bạn vẫn không thay đổi ý định lựa chọn Virgo, bạn sẽ có một đấng phu quân thông minh, hiểu biết, mặc dù hơi lãnh đạm. Chàng là người đáng tin cậy và đáng yêu nếu bạn đủ tế nhị để sẽ không để ý đến những sai lầm và nhược điểm của chàng. Sòng phẳng mà nói, nhược điểm của chàng không phải là nhiều lắm.

Hãy biết tôn trọng những thói quen của chàng. Không quan trọng bạn có thích những điều chàng làm hay không, đừng có góp ý với chàng, đừng làm người chán ngắt như vậy. Còn những lời chỉ trích của chàng – hãy đón nhận bằng nụ cười, và bạn sẽ không gặp vấn đề nào cả. Chồng-Virgo không phải là thiên thần, nhưng nhiều phụ nữ khác sẽ phải ghen tỵ với bạn.

Suy cho cùng, dễ gì tìm được những ông chồng làm lụng từ sáng đến tối, ăn mặc cẩn thận, hình thức dễ mến, nhớ ngày kỷ niệm lần gặp nhau đầu tiên, và hầu như không bao giờ có nhân tình? Thử nhìn quanh xem nào. Bạn hoàn toàn có quyền cho mình là người hạnh phúc

Đàn bà – Xử Nữ

Bạn có nghĩ rằng đàn bà Xử Nữ là biểu tượng của sự dịu dàng, thuần phục và yếu đuối? Nếu thế, bạn sẽ thất vọng. Xử Nữ hoàn toàn không phải hình ảnh một nàng tiên áo lụa e lệ soi bóng xuống mặt hồ chốn rừng xanh

Đàn bà Xử Nữ dám bỏ chồng vì người tình và đi theo anh ta đến tận cùng thế giới. Nàng thà sinh con ngoài giá thú với người mình yêu, chứ không đời nào cưới người mình không yêu làm chồng. Nàng thuộc loại người đón nhận mọi đòn đau của số phận vẫn ngẩng cao đầu. Bạn thấy đấy, trong những hành động như thế không thể có chỗ cho sự thuần phục và yếu đuối.

Thiên bẩm Xử Nữ rất e lệ. Họ không thuộc loại người gào thét giữa cuộc họp, phóng xe hùng hổ trên đường phố, hoặc tham gia những nơi ăn chơi đáng ngờ. Nhưng Xử Nữ là người đàn bà đích thực, nàng sẽ chiến đấu đến cùng vì hạnh phúc của mình. Nếu trên con đường đó có những trở ngại điệp trùng, nàng sẽ không than khóc, ngất xỉu, hoặc cầu xin giúp đỡ, mà sẽ bằng sức mình quyết vượt qua.

Xử Nữ hầu như không có khả năng làm những điều tội lỗi. Nếu nàng có hành động nào đó thoạt nhìn có vẻ phạm pháp, thì điều bào chữa chỉ có thể đó là hành động vì một tình yêu. Nàng sẵn lòng chịu những hy sinh vô hạn vì người yêu. Nhưng khi thấy cuộc hôn nhân của mình bất thành, Xử Nữ không do dự huỷ bỏ nó. Và nàng sẽ làm điều đó một cách lạnh lùng như bác sĩ trong ca phẫu thuật. Phá bỏ gia đình đối với nàng là một bi kịch lớn, nhưng giả dối trong gia đình và tình yêu thì bi kịch còn lớn hơn.

Một khi nàng đã quyết định rằng đó chính là mối tình đích thực và lý tưởng, thì không quan trọng nó có được trang hoàng bằng hôn nhân hay không, nàng sẽ coi nó là báu vật lớn nhất của mình. Xử Nữ là cung Hoàng đạo duy nhất có khả năng là một bản thể đồng thời vừa lãng mạn như mây xanh, vừa toan tính như quỷ sứ. Trong tình yêu của nàng có bản chất ma thuật biểu hiện bằng sự chọn lựa khắt khe và sức mạnh mà so với nó mọi đam mê yêu đương của các cung khác trở nên thật là mờ nhạt. Tuy nhiên, đánh thức được cảm xúc này của Xử Nữ không phải là việc đơn giản.

Trong tình yêu của Xử Nữ, bình diện thể xác bao giờ cũng có phần lu mờ. Nhưng ở đó có cái có thể gọi là “sự cuồng nhiệt của tâm hồn” – rất hợp ý những đàn ông đánh giá người đàn bà trước hết ở bình diện tinh thần.

Xử Nữ có một vài nhược điểm đôi khi gây khó chịu. Ví dụ, đàn bà Xử Nữ tin chắc rằng không ai có thể làm công việc tốt hơn và chất lượng hơn họ. Và điều khó chịu nhất là thực tế lại đúng như thế.

Khi Xử Nữ không hài lòng chuyện gì đó, nàng không gây scandal, không ném bát đĩa vào đầu bạn, nhưng sẽ châm chọc, mỉa mai, hoặc thậm chí thẳng thừng mắng nhiếc. Nếu đã làm Xử Nữ tức giận, bạn nên mang hoa đến gặp nàng, nhận mình sai và xin lỗi. Xin đừng tranh cãi với Xử Nữ, đằng nào bạn cũng chẳng chứng minh được điều gì. Về lời xin lỗi, chúng phải ngắn gọn và chân thành. Xử Nữ không thể chịu được bạn nói dối. Trí tuệ rành mạch kết hợp với linh cảm giúp nàng phát hiện ra những điều dối trá dù là tinh vi nhất, và nàng sẽ không tha thứ. Xử Nữ trong sạch và chân thành, nhưng không ngây thơ.

Thêm một cảnh báo nữa. Đừng có chỉ trích Xử Nữ, nàng không bao giờ công khai thừa nhận sai lầm của mình. Vả lại, Xử Nữ nói chung có mấy khi sai. Vậy nên, để duy trì quan hệ bình thường, hãy rút lui các cáo buộc của mình, và bầu trời gia đình của bạn lại sẽ quang mây tạnh gió.

Nếu không ngại tổn hại sĩ diện đàn ông của mình, bạn có thể xin nàng lời khuyên về các vấn đề tài chính, và nàng sẽ cho bạn câu trả lời rất chuyên môn. Có thể mạnh dạn để nàng quản lý ngân sách gia đình, nàng sẽ không bao giờ làm điều gì ngu ngốc.

Đang định lấy lòng Xử Nữ, hãy chú ý đến phong thái và lời nói của mình. Nàng không thể chịu đựng được những từ lóng, chứ chưa nói đến văng tục hoặc say rượu lải nhải. Hãy ngậm miệng khi nhai thức ăn, cố gắng đừng lép nhép xì xụp – điều đó làm đau tai nàng. Áo quần phải trong tình trạng không chê vào đâu được. Nếu người bạn yêu là Xử Nữ, bạn cần tắm gội mỗi ngày hai lần. Hãy dùng loại nước cạo râu đắt tiền, chú ý chải tóc, thay áo sơ mi và đánh giầy hàng ngày.

Đừng rủ Xử Nữ đi xem bạn chơi bài ăn tiền, và trước mắt nàng đừng có vứt ra một tuần lương bắt độ cho đội bóng Arsenal. Tiễn nàng về nhà, đừng có lao vào nàng với những cái ôm hôn, cho dù đó là lần gặp thứ mười của các bạn. Nói chung, trong quan hệ với Xử Nữ, làm chưa tới tốt hơn là làm quá. Quan tâm nhưng đừng đeo bám, sẵn sàng giúp đỡ nhưng đừng làm phiền, nói chung hãy chú ý mức độ.

Xử Nữ là nhà phê bình xuất chúng. Yêu điện ảnh, âm nhạc, sách, đồng thời nàng phê bình chúng nhiều hơn ai hết. Nói chung đàn bà Xử Nữ phê phán tất cả mọi thứ, bắt đầu từ hình thức của bạn và kết thúc bằng lời nói của bạn. Việc phê phán đối với nàng cũng tự nhiên như là việc thở đối với bạn. Nhưng đừng có mà bắt chước nàng nhé. Như thế là sai luật chơi. Nguyên do, với trí thông minh sắc bén, nàng nhìn thấy những nhược điểm của mình chẳng kém gì bạn.

Nét hấp dẫn rõ ràng của người vợ Xử Nữ là: bạn hầu như chẳng phải lo việc gì. Nàng tự đảm nhận mọi việc, và sẽ làm những việc đó một cách thoải mái.

Xử Nữ là mẫu người chung thuỷ và tận tuỵ. Nếu có lúc bạn nghe thấy nói nàng có chuyện này khác, thì nhiều khả năng đó là cách nàng chứng minh điều gì đó với bản thân hoặc với mọi người xung quanh mà thôi. Những pha như vậy thường rất hiếm và ngắn ngủi. Còn một khi Xử Nữ đã có ý định bước vào đường phạm lỗi, nàng sẽ làm điều đó một cách rất khéo léo, đến nỗi bạn không bao giờ biết chuyện. Nhưng hành động như vậy có lẽ là ngoại lệ. Nếu Xử Nữ thực sự yêu bạn, bạn có thể hoàn toàn tin tưởng vào lòng chung thuỷ của nàng, cho dù nếu như nàng phải sống cả một tháng trời trên hòn đảo hoang với Michael Douglas hay là David Beckham. Bạn hỏi, thế nếu hai tháng thì nàng có còn chung tình không? Dĩ nhiên đó là một câu hỏi khó. Suy cho cùng, nàng cũng là con người.

Mặc dù Xử Nữ hay bắt bẻ và quá để ý những chuyện vụn vặt, điều đó không cản trở nàng sống tốt bụng, không vụ lợi, và vô cùng quan tâm đến mọi người. Cách ứng xử điềm đạm, ánh sáng toả ra từ đôi mắt, sự hài ước tinh tế của nàng đã kịp chinh phục bạn rồi, chẳng phải thế sao?

Xử Nữ thường là những người nấu bếp xuất sắc. Ngay những người vụng nhất trong số họ cũng không bao giờ làm cho gia đình bị ngộ độc thức ăn. Trong nhà Xử Nữ thường sáng sủa, sạch sẽ và dễ chịu, chiếc đĩa trên bàn bao giờ cũng đầy hoa quả tươi (thay vì kẹo bánh – thứ mà nhiều phụ nữ khác yêu thích).

Con cái của Xử Nữ không chạy chơi ngoài phố với chiếc quần thủng gối, bít tất lấm lem, hay nước mũi ròng ròng. Bạn không bao giờ thấy cảnh chiếc caravat và bao thuốc lá của bạn bị bọn trẻ vứt ra sàn nhà, còn thanh kiếm nhựa và mặt nạ của chúng thì để lên trang tài liệu trên bàn làm việc của bạn. Xử Nữ mẹ là một nhà sư phạm nghiêm khắc.

Đôi khi bọn trẻ gặp vài khó khăn về tình cảm trong quan hệ với Xử Nữ mẹ, nhưng điều đó chỉ xảy ra trong trường hợp nàng thiếu lòng tin vào chồng mình. Còn khi thấy mình được chồng yêu thương, nàng sẽ tặng cho mọi người quanh những tình cảm nồng ấm vô chừng. Con cái ngưỡng mộ Xử Nữ mẹ bởi tính hài ước và sự mềm mỏng. Để dạy cho con những nếp sống tốt, Xử Nữ thể hiện tính cứng rắn được pha dịu bởi sự dịu dàng và tình yêu thương.

Thật dễ chịu sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc trở về ngôi nhà của Xử Nữ, tràn đầy hương thơm hoa quả và bữa ăn nấu nướng ngon lành. Xử Nữ sẽ giúp bạn rũ bỏ mọi ý nghĩ nặng nề và tìm giải pháp cho những hoàn cảnh tưởng chừng không có lối thoát. Lúc ốm đau, Xử Nữ sẽ chăm sóc bạn như một y tá dày dạn kinh nghiệm. Nàng không bao giờ tán tỉnh bạn bè của chồng. Với nàng bạn có thể tin tưởng thảo luận mọi vấn đề chứ không chỉ chuyện tã lót, rau dưa. Nàng sẽ tận tuỵ với bạn bằng cả tấm lòng. Nàng sẽ không gây những cảnh đánh ghen điên cuồng, và không vung tiền qua cửa sổ. Nàng sẽ giữ được rất lâu làn da mịn màng và dáng đi mềm mại. Và chẳng nhẽ tất cả những điều đó cộng lại không xứng để tha thứ cho nàng vài nhược điểm nhỏ?

Nếu bạn đã may mắn gặp được Xử Nữ trên con đường của đời mình, hãy giữ lấy nàng. Có thể bạn sẽ không gặp may như thế thêm một lần nào nữa.

,

Leave a comment

[04.02.2016] Tiên Lý Kỳ Duyên

Đại thoại Tây Du (1995): Nguyệt Quang Bảo Hợp – Tiên lý kỳ duyên

Năm 1995, đạo diễn Lưu Trấn Vĩ thực hiện bộ phim Đại thoại Tây Du (A Chinese Odyssey) dựa theo tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Thực ra, Lưu chỉ mượn Tây Du Ký với Tôn Ngộ Không là nhân vật chính để kể một câu chuyện khác.

Diễn viên chính trong hai phần Đại thoại Tây Du này không ai khác hơn chính là Châu Tinh Trì. Lúc này Châu 33 tuổi, đã thành danh sau hơn mười năm thăng trầm trong làng giải trí Hongkong.

Lần đầu tiên Lưu Trấn Vĩ và Châu Tinh Trì hợp tác là phim All For The Winner (Đổ Thánh) – bộ phim đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp của Châu, đã giới thiệu với công chúng Hongkong một ngôi sao điện ảnh mới với những đặc điểm rất riêng để rồi sau này trở thành một thương hiệu của phim Châu Tinh Trì.

Sau Đổ Thánh, Lưu và Châu còn hợp tác cùng nhau trong 2 phim nữa là Fist of Fury 1 và 2 (Tân Tinh Võ Môn 1991). Còn với Châu Tinh Trì, từ sau Đổ Thánh sản xuất năm 1990 đến năm 1995, anh đã đóng hơn 20 phim, trong đó có Học trường Uy Long, Tô Khất Nhi, Tân Lộc Đỉnh Ký, Gia Hảo Hỷ Sự, Đường Bá Hổ Điểm Thu Hương, Tế Công, Quốc sản 007… Phim nào cũng ăn khách và để lại trong lòng khán giả một hình ảnh Châu Tinh Trì rất Châu Tinh Trì.

Quay trở lại với Đại thoại Tây Du năm 1995. Lưu đã chia bộ phim gồm 2 phần, gọi tên như sau:

– Tây du kí phần đầu: Nguyệt quang bảo hợp – (A Chinese Odyssey Part One: Pandora’s Box)
– Tây du kí phần kết: Tiên lí kì duyên (A Chinese Odyssey Part Two: Cinderella)

Vai Tôn Ngô Không – Đại đương gia Chí Tôn Bảo (hậu thân của Tôn Ngộ Không) dĩ nhiên là do Châu Tinh Trì thủ diễn. Các vai khác do những diễn viên đã từng hợp tác cùng Châu trong rất nhiều phim của anh. Trong đó phải kể đến Ngô Mẫn Đạt (Nhị đương gia – Trư Bát Giới), La Gia Anh (Đường Tam Tạng), Lam Khiết Anh (Xuân Tam Thập Nương – Nhện Tinh), Mạc Văn Úy (Bạch Tinh Tinh – Bạch Cốt Tinh), Thái Thiếu Phân (Thiết Phiến Công Chúa), Chu Ân (Tử Hà/Thanh Hà – Bàn Tơ Đại Tiên)…

Ở phần đầu, Nguyệt quang bảo hợp kể lại câu chuyện năm trăm năm trước Tôn Ngộ Không do không thể nào chịu nổi vị sư phụ mỏ nhọn nói nhiều nên mới hợp mưu cùng Ngưu Ma Vương bắt Đường Tăng ăn thịt, lại trộm lấy Nguyệt Quang Bảo Hợp của Tử Hà Tiên Tử mà gây rối. Quan Âm Đại Sĩ được Ngọc Hoàng nhờ vả, mới ra tay bắt Ngộ Không nhốt vào lục bình toan trị tội. Đường Tăng thấy vậy bèn cầu xin được chết thay cho đại đệ tử…

Năm trăm năm sau, trên giang hồ xuất hiện một bọn cường hào gọi là bang Lưỡi Búa. Chúng chuyên tác oai tác quái vùng đại mạc, đại dương gia là Chí Tôn Bảo, nhị đương gia là… Ngô Mẫn Đạt. Một ngày kia có một nữ hồng nhân tên gọi Xuân Tam Thập Nương xuất hiện ở địa phận quản lý bang Lưỡi Búa. Nàng dùng trẻ tuổi mà võ công cao đã xử gọn gàng bang Lưỡi Búa từ đương gia cho đến tiểu tốt, rồi “mượn tạm” cơ ngơi của bang để nghỉ ngơi chờ người có ba nốt ruồi đỏ ở lòng bàn chân đi qua…

Photobucket

Câu chuyện bắt đầu tiếp diễn khi Chí Tôn Bảo phát hiện ra Xuân Tam Thập Nương chính là Hắc Thù Tinh và vị tiểu sư muội của nàng ta có dung mạo xinh đẹp tuyệt trần tên gọi Bạch Tinh Tinh lại chính là hóa thân của Bạch Cốt Tinh. Rồi abc và xyz, Chí Tôn Bảo bị hai nàng bắt đem về động Bàn Tơ để điều tra tung tích của Đường Tam Tạng. Tại đây Chí Tôn Bảo vô tình nhặt được Nguyệt Quang Bảo Hợp khi… đào đất định trốn ra ngoài. Tiếp đó giữa Chí Tôn Bảo và Bạch Tinh Tinh nảy sinh mốt đoạn tình cảm lâm li bi đát. Yêu đương rồi hiểu lầm dẫn đến chuyện Bạch Tinh Tinh tự vẫn khiến Chí Tôn Bảo phải dùng Nguyệt Quang Bảo Hợp để quay ngược thời gian nhầm cứu tình nhân. Ai dè đâu, sau ba lần quay ngược thời gian mà vì cái này cái nọ cái kia chẳng mần ăn chi được, ở lần thứ tư Nguyệt Quang Bảo Hợp bị trục trặc nên thảy luôn chàng giai về với năm trăm năm trước… Đến đây thì hết phần đầu.

Nội dung trong phần đầu chỉ là câu chuyện mở đầu cho rất nhiều thứ sẽ diễn ra ở phần sau. Ở phần này, có thể thấy Lưu Trấn Vĩ đã khéo léo đem rất nhiều tình tiết trong kiếm hiệp Kim Dung, Cổ Long vào trong đời sống của bang Lưỡi Búa. Như chuyện đại đương gia Chí Tôn Bảo vì tỉ thí với Côn Luân Tam Thánh mà dính Thất Thương Quyền thành ra bị nhòa mắt, gây ra bao chuyện giở khóc dở cười rất tầm xàm.

Photobucket

Hay chuyện Xuân Tam Thập Nương đặt đồng tiền trên đầu bang chúng Lưỡi Búa lệnh là nếu rớt đồng tiền xuống thì bị hự hự, chiêu này nhái theo Kim Tiền Bang trong Đa tình kiếm khách vô tình kiếm của Cổ Long. Rồi cái màn tắm trong hồ bị bè lũ Lưỡi Búa toan xâm hại cũng là tình tiết của Phong Tứ Nương trong Tiêu Thập Nhất Lang – Cổ Long…

Photobucket

Photobucket

Nội dung thì cũng không có gì nhưng mọi tình tiết phim đều có thể cười hặc hặc hặc. Cảnh Chí Tôn Bảo vì si mê Bạch Tinh Tinh mà quyết tâm thay đổi hình tượng, cắt tóc cạo râu thành bạch diện thư sinh đứng trên cầu, gió thổi áo dài bay phấp phới lộ đôi chân nhẵn nhụi thiệt là gợi cảm không gì tả nổi. Rồi đoạn vô tình bị lửa cháy ngay chỗ khó nói không làm sao dập tắt được phải nhờ đến nhị đương gia bay dzô đạp tới tấp lửa mới tắt mà đành cười trong cay đắng. Báo hại, đến đoạn mưu bắt chị em yêu tinh, cứ đinh ninh là dán bùa của Bồ Đề tặng rồi nên không bị hai yêu nữ thấy, thành ra Chí Tôn Bảo và đồng bọn phải tuyệt đối im lặng không dám phát ra tiếng động gì hết. Ai dè hai con nữ yêu ma lanh quá xá cố tình làm cháy ngay chỗ khó nói của Chí Tôn Bảo, làm đại đương gia phải cắn răng nhắm mắt mà nhờ đàn em ra chân mặc sức dẫm đạp… Đến lần thứ ba thì nhị đương gia chỉ đành lắc đầu mà nói thôi bỏ đi bỏ đi, nó cháy khét hết rồi còn chi nữa đâu he he. Thiệt là phỡn, thiệt là nhảm, mà thiệt là thích thú.

Photobucket

Những đoạn biểu lộ tình cảm luyến ái của Chí Tôn Bảo với Bạch Tinh Tinh cũng hết sức buồn cười. Cười vì dễ thương mà nhảm chịu hông nổi. Cái gì mà nàng khóc chàng muốn đưa tay ôm nàng nhưng ngập ngừng, thế là nàng nắm tay nàng đặt lên vai nàng luôn, rồi cả hai xuân tình phát tiết cái gì mà định gì gì mà hông ngờ bà cha nó cái dây quần cột khó gỡ quá. Rồi nàng khóc, chàng xin lỗi vì đã mạo phạm, nàng nói chớ hẻm phải nha, tại em quen làm buổi tối há há… Ngay cả lúc bốn lần dùng Nguyệt Quang Bảo Hợp để ngược thời gian quay lại cứu Bạch Tinh Tinh cũng rất hay rất nhảm, làm xem mà cười thích thú.

Photobucket

Các nhân vật trong phần này đều diễn xuất xuất sắc, từ nhị đương gia của Ngô Mẫn Đạt cho đến Bính Mù và đồng bọn bang Lưỡi Búa, hay Xuân Tam Thập Nương của Lam Khiết Anh… Mạc Văn Úy trong phim này mới 20 tuổi, quả thật dung nhan xinh đẹp…

Photobucket

Thế nhưng, dung nhan của Mạc Văn Úy và Lam Khiết Anh dường như chưa là gì cả so với Chu Ân ở phần 2…

Ở phần sau, là câu chuyện khi Chí Tôn Bảo bị Nguyệt Quang Bảo Hợp đưa ngược lại về năm trăm năm trước. Mở mắt ra nhìn trời ngó đất thì thấy một thiếu nữ dung mạo tuyệt trần tên gọi Tử Hà xuất hiện. Nàng này coi xinh đẹp mà cũng hơi cà chớn, nói chớ núi này động này giờ là của ta, gì ở đây cũng là của ta, mi cũng dzậy ha ha…

Photobucket

Nguyên Tử Hà cùng Thanh Hà là hai chị em, hổng biết mần sao mà thù nhau ghê gớm quính nhau dữ dội. Phật Tổ thấy dậy mới mần phép biến hai chị em thành hai sợi chỉ quấn nhau thành cái tim đèn nằm trên bàn Phật. Một ngày kia Tử Hà mới trốn xuống trần gian mang theo thanh Tử Thanh Bảo Kiếm. Nàng phát nguyện hở giai nào trên thế gian mà rút được thanh kiếm khỏi vỏ thì nàng sẽ lấy làm chồng…

Photobucket

Hỏng dè Chí Tôn Bảo rút ra cái một. Thế là Tử Hà nói i cha i cha đây rồi, giai này là giai của ta, ta iu chàng, ta iu chàng tha thiết. Chí Tôn Bảo thì muốn lấy lại Nguyệt Quang Bảo Hợp để tới năm trăm năm sau cứu sống Bạch Tinh Tinh nên đành đi theo Tử Hà. Nhưng Tử Hà và Thanh Hà cơ thể chỉ có một thành ra sáng là Tử tối là Thanh, báo hại Chí Tôn Bảo phải đẻ ra thêm Chí Tôn Ngọc để mà đối phó. Rồi thế này thế nọ, Chí Tôn Bảo nói anh iu ai thì chỉ tim anh mới biết, anh hận hong moi nó ra được để chứng minh em thấy… Tử Hà nói cần chi cần chi, rồi nhảy vào trong đó hỏi xem tim Tôn Bảo có ai ở trỏng…

Photobucket

Rồi Đường Tam Tạng, Bát Giới, Sa Tăng và Ngưu Ma Vương xuất hiện. Ngưu Ma Vương thì mưu bắt Đường Tăng để ăn thịt. Lúc này Tử Hà hiểu lầm Tôn Bảo nên theo Ngưu Ma Vương đa tình háo sắc đòi để con trâu này cưới làm vợ quách cho rồi… Rồi Thiết Phiến, rồi em gái Ngưu Ma Vương cũng xuất hiện luôn.

Photobucket

Photobucket

Trong trận quính dí Ngưu Ma Vương, Chí Tôn Bảo vô tình bị té xuống vực rồi nhờ Bồ Đề đưa về động Bàn Tơ. Ở đó chàng gặp lại Bạch Tinh Tinh của năm trăm trước, rồi giải thích này nọ về nhân duyên năm trăm năm sau. Tôn Bảo sẽ chọn ai, Tử Hà hay Tinh Tinh? Chàng cũng không biết, chỉ có trái tim chàng mới hiểu, thành ra Tinh Tinh nhảy luôn vào đó để xem coi sao. Nhảy vào mới biết, trước đây cũng có một cô gái đã vào trước nàng và để lại một vật…

Ở phần này, Lưu Trấn Vĩ đã giới thiệu một Chu Ân 19 tuổi qua hình tượng Tử Hà xinh đẹp thiệt chịu không có nổi luôn.

Cảnh quay mở đầu với hình ảnh Tử Hà chèo xuồng qua sông cỏ lau đẹp điên đảo. Cảnh nàng đứng giữa đại mạc đẹp điên đảo, nàng cưỡi ngựa vào làng cũng đẹp đảo điên. Mỗi ánh mắt cử chỉ, nụ cười của hoa đán Hongkong đều biểu hiện được nét ung mà nghịch ngợm, hồn nhiên mà quyến rũ. Một thứ mỹ sắc làm háo hức lòng người.

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Xuyên suốt phần hai, hình ảnh Tử Hà bên cạnh Chí Tôn Bảo thiệt đáng iu mà kiều diễm không bút mực hay keyboard nào tả xiết.

Vẫn lối diễn tưng tửng rất Châu Tinh Trì, hình ảnh của Chí Tôn Bảo trong phần này vẫn là tiểu nhân sợ chết nhưng một mực chân tình, đến cuối cùng mới bộc phát thành anh hùng.

Phần kết là cảnh Tử Hà bị Ngưu Ma Vương cưỡng đoạt ép thành hôn, Chí Tôn Bảo thì lựa chọn giữa Tinh Tinh và Tử Hà.

Cuối cùng kết cuộc sẽ ra sao?

Tinh Tinh đã chọn ra đi. Nàng biết, nàng không nằm trong trái tim Chí Tôn Bảo. Chàng không thuộc về nàng.

Tử Hà thì chờ đợi, nàng tin Chí Tôn Bảo sẽ quay trở lại giải cứu nàng, cả hai sẽ tiếp tục đoạn tình duyên luyến ái.

Còn Chí Tôn Bảo? Chàng cuối cùng cũng hiểu, ai là người trong trái tim của chàng. Khi Tử Hà đối diện với trái tim chàng, trước khi trở ra, nàng để lại một vật…

Vật ấy là một giọt lệ.

Photobucket

To TOILAA: “Đã từng có một mối tình chân thành phô bày trước mặt tôi. Nhưng mà tôi không biết trân trọng. Cho tới khi mất đi tôi mới biết ăn năn thì không kịp. Trên trần gian còn có gì đau khổ hơn như vậy?!? Nếu mà ông trời cho tôi một cơ hội trở lại một lần nữa, thì tôi sẽ nói với cô gái đó tôi yêu cổ. Nếu nhất định phải có một kỳ hạn cho mối tình này, tôi hy vọng là… mười ngàn năm”.

Trong phim Thiên hạ vô song (2002) cũng của Lưu Trấn Vĩ, có sự tham gia diễn xuất của Lương Triều Vỹ, Triệu Vy, Chu Ân,… Chu Ân đã nhại lại:

“Thật là cảm động. Ta nhớ lại Tôn Ngộ Không trong Đại thoại Tây Du từng nói… Từng có một bát mì chân lợn nướng nóng hổi để ngay trước mặt ta nhưng ta không hề quý trọng. Đến khi mì nguội thì hối không kịp nữa. Đây chính là điều đau khổ nhất trên thế gian…”

He he.

Người ta có thể yêu nhau trong khoảnh khắc, nhưng có thể hận nhau suốt ngàn năm. Chung quy, Chí Tôn Bảo cũng chỉ có thể lựa chọn cách từ bỏ.

Chàng lại đội Kim cang cô lên đầu và trở thành Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không, đánh bại Ngưu Ma Vương để tiếp tục đưa Đường Tam Tạng lên đường thỉnh kinh. Chung quy một đoạn nhân tình cùng Tử Hà cũng chỉ là nhân mộng. Tiền duyên vạn kiếp, tình nghiệt năm trăm năm cũng chỉ là trong một khoảnh khắc…

Năm trăm năm trước, năm trăm năm sau, đâu là thực tại?

Thủy Liêm Động, Bàn Tơ Động hay Bồ Đề Động chung quy cũng chỉ là một cái tên.

Kết cục là gì không quan trọng, còn chăng chỉ là niềm luyến tiếc.

Từng chi tiết trong phần kết đều được chăm chút kỹ lưỡng, có thể bật cười mà cũng có thể nghiền ngẫm suy nghĩ… nếu thích. Xem phim của Châu Tinh Trì, không thể diễn tả được cách diễn xuất của anh như thế nào cho đúng, chỉ có thể xem rồi nhớ rồi phì cười. Biểu hiện trên gương mặt, những cử chỉ, thản nhiên mà hóm hỉnh đến phi thường.

Thật sự phi thường. Thật sự rất Châu Tinh Trì.

Ở phần sau, có hai tình tiết mà anh rất thích. Một là cảnh Tam Tạng hát bài Only You, thiệt xuất sắc chịu không nổi. La Gia Anh đã thủ diễn một Tam Tạng đặc biệt đến lạ lùng, một hình tượng Đường Tăng chưa bao giờ có trong lịch sử các phim làm về Tây Du Ký. Nói nhiều, dai dẳn, lằng nhằng, ưa triết lý… một mẫu người thiệt là làm người ta nhức đầu đến chết. Tính tình hiếm có của vị đại sư Đại Đường đã khiến cho đệ tử của ông thà làm yêu chớ không làm Phật mà âm mưu cùng Ngưu Ma Vương mần thịt ông. Vậy mà lúc bị treo trên cột chờ hành hình, vị Tam Tạng này vẫn lạc quan và nói rất nhiều. Nói nhiều đến mức hai con yêu canh chừng ông, con thì tự rút dao đâm lòi ruột, con thì treo cổ để khỏi phải nghe lải nhải nữa. Tu hành như Đường Tăng mới thiệt xuất chúng.

Photobucket

Hai là các đoạn thoại với trái tim của Chí Tôn Bảo của hai nàng Tử Hà và Bạch Tinh Tinh. Chung quy người ta chẳng hiểu hai nàng hỏi gì và trái tim trả lời cái gì. Rốt cuộc chỉ có tự mỗi nàng hiểu, rồi Chí Tôn Bảo hiểu. Đó là nút thắt của đoạn nhân duyên luyến ái giữa ba người mà cách mở nút thì thật sự xuất chúng.

Sau khi công chiếu vào năm 1995, Đại thoại Tây du đã nhận được sự hưởng ứng hết mực từ đông đảo công chúng đồng thời được giới phê bình đánh giá cao. Tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 15 bộ phim có một số đề cử trong đó có hạng mục kịch bản và vai nam chính tuy nhiên tác phẩm đã không giành được bất cứu giải nào. Dù vậy, Châu đã giành giải Vai nam chính xuất sắc nhất của Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Hồng Kông, đây là một trong những giải thưởng diễn xuất đầu tiên của ngôi sao phim hài này. Năm 2005 bộ phim đã được bình chọn xếp thứ 19 trong danh sách 100 phim tiếng Hoa hay nhất trong lịch sử.

Đây cũng có thể nói là phim hay nhất của Châu Tinh Trì trong giai đoạn định hình phong cách và thời gian Châu ngự trị trên đỉnh cao phong độ với vai trò là Vua hài Hongkong những năm chín mươi.

Năm 2010, đạo diễn Lưu Trấn Vĩ tiến hành làm phim Nguyệt Quang Bảo Hợp 2010. Phần tiếp theo này cũng xoay quanh chiếc hộp Nguyệt Quang, nhưng có nội dung khác. Dĩ nhiên là không có Châu Tình Trì. Bộ phim quy tụ đông đảo dàn diễn viên nổi tiếng của HongKong như Tăng Chí Vĩ, Đàm Diệu Văn, Tôn Lệ, Chung Hân Đồng… Vai chính được giao cho Trịnh Trung Cơ và Tôn Lệ.

Chuyện kể Mai Côi tiên tử đã trộm thanh Tử Thanh Bảo Kiếm của sư tỷ là Tử Hà rồi trốn xuống trần, cũng phát thệ hệt như sư tỷ trong phần trước rồi bị tên đạo tặc tên Thanh Nhất Sắc (Trịnh Trung Cơ) rút được kiếm ra khỏi vỏ. Cả hai lại vô tình nhặt được Nguyệt Quang Bảo Hợp từ tay Ngưu Ma Vương rồi lại tiếp tục một đoạn tình duyên xuyên không gian, vượt thời gian về với thời Tam Quốc… Một loạt những tình tiết từ các phim Xích Bích, Thập diện mai phục, Kungfu Panda, Kungfu (Châu Tinh Trì), và cả Titanic… được lồng vào hành trình của đôi tình nhân để rồi kết thúc cũng quay trở về với thực tại có sự xuất hiện của Thiết Phiến (Thái Thiếu Phân) và Tử Hà (Chu Ân)…

Những tình tiết từ bộ phim mười lăm năm trước cũng được nhắc đến trong phim này dù thoáng qua. Bộ phim không để lại nhiều ấn tượng sâu sắc như bản trước nó dù cũng đem lại nhiều tiếng cười thú vị. Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ dừng ở đó.

Tác giả: Phan Hải

Leave a comment

[01.02.2016]

Khó ngủ ….

Leave a comment

Happy New Year 2016

 

 

Leave a comment

Đà Lạt mùa này ….

Lục lọi trong những nhớ quên của ký ức, hình như tôi đã từng viết: “… Tôi là một kẻ xa xứ dừng chân ở Đà Lạt.

Mà có lẽ chẳng riêng mình tôi, ở thành phố trên cao lãng mạn và đầy mê hoặc này chẳng thiếu lý do để người ta có thể dừng chân. Trong mệt nhoài mưu sinh, tôi chợt nhận ra mình cũng giống như những loài hoa đã đến và dừng chân trên mảnh đất này, yêu – nhớ và chẳng thể rũ bỏ để quay về…”. Đà Lạt có mùa không nhỉ, có lẽ là không (?!), nơi đây chỉ có một mùa, mùa của tình yêu, mùa của sự ở lại…

tinhhoa-net-uylvrk-20141006-da-lat-bong-benh-trong-suong-som

Đà Lạt mùa này, những cơn mưa đuổi dài, nối nhau phủ trắng triền thung, mưa nhiều lúc đến nản lòng những bước chân ra phố. Khi những cơn mưa thảng thốt bất chợt dừng lại, mặt trời về hong cơn nắng lạnh, lại là lúc người ta cần một cái nắm tay, cần bờ vai, cần một nụ hôn để sưởi ấm…

Cứ mỗi lần xem dự báo thời tiết, tận ở nơi nào đó có áp thấp, bão lớn bão nhỏ, y rằng Đà Lạt lại mưa, mưa nhiều, dày hơn thường lệ. Đà Lạt mưa, cũng là mùa của sự tần tảo, mùa của mưu sinh khó nhọc hơn thường lệ.

Nông dân là một nghề sang trọng ở Đà Lạt. Nếu ai đó, không phải là cư dân của vùng đất này, thấy một ai đó đi ủng (vẫn còn vương chút bùn đất) ngồi đĩnh đạc trong một nhà hàng, nhấp nháp ly rượu hoặc một chai bia thương hiệu vào một buổi chiều se lạnh, hay giản đơn là một ly cà phê mỗi buổi sáng, xin đừng ngạc nhiên, họ là nông dân chính hiệu. Nhưng cũng đừng ngạc nhiên, những dĩa salad sang trọng mà bạn thưởng thức trong các khách sạn, nhà hàng có sao là được họ cắt lúc Đà Lạt sương sớm đổ về lạnh giá nhất. Những cánh hồng nồng hương, được bạn mua về tặng cho người thương yêu cũng được họ, những người nông dân chở về trên những chuyến xe đẫm ướt hơi mưa.

Phía sau một Đà Lạt thiên đường tình yêu, một Đà Lạt tình tứ sương giăng phủ lối… lại cũng là một Đà Lạt bình dị. Đà Lạt của những điều giản đơn, Đà Lạt của những khoảnh vườn rau hoa, của những căn nhà gỗ nằm chênh vênh trên triền đồi, nơi đó có những cô gái má vẫn hồng sau mỗi cơn mưa chiều, bình yên và trinh nguyên, trong lành và ban sơ như tạo hóa đã đặc ân ban cho mảnh đất này tự thưở nào.

Đà Lạt mùa này, hoa dại nở tràn trên những góc phố. Có lẽ vì thế, Đà Lạt như một thỏi nam châm, đầy hấp lực hút những bước bước chân tìm về. Trên mỗi con phố bậc thang chồn chân du khách, Đà Lạt nương náu đời sống của mình dưới những chiếc dù và dưới những cánh dù chẳng đủ che mưa ấy, mọi thứ đều ấm nóng. Ấm từ thức ăn, từ những ly rượu hâm nóng, từ những hỏi han, từ những sự co ro gần lại. Đà Lạt càng mưa, càng lạnh, người ta lại càng gần nhau, hơi ấm tình người có lẽ cũng là thứ đặc ân mà tạo hóa ban tặng cho con người nơi đây, khi mà ở đâu đó chúng giống như một món quà xa xỉ.

Điện thoại tôi đổ chuông nhiều hơn thường lệ trong những ngày mưa. Bằng hữu tâm giao, người thân, hoặc giản đơn là sự hò hẹn tưởng chừng đã lãng quên lâu rồi trong ký ức… họ ùa về, họ tìm đến, Đà Lạt có thứ họ cần. Họ đi tìm cái “lạnh” thì phải(?!), phải chăng trong cái toát mồ hôi của cơm áo, họ cần một chút lạnh, trong mưa lạnh họ mới thấy cần nhau hơn, mới sẻ chia cho nhau và hơi ấm yêu thương mới tìm về, mới thấy được chở che.

Đà Lạt mùa này, mọi người cũng dường như vội hơn. Vội vì mưu sinh (giản đơn là ai cũng phải sống), vì du khách đổ về nhiều bởi với họ đây là mùa hè, mùa của sự xả hơi, của tận hưởng thành quả lao động. Chẳng lạ, bởi ngoài rau hoa thì cư dân của thành phố phần nhiều cũng sống bằng du lịch.

Và lạ thật, chẳng phải riêng tôi, Đà Lạt mùa này, những người sống ở đây tỏ ra “ích kỷ” quá đỗi lạ thường. Đôi lúc họ cần khoảng không, thèm cái cảm giác phố thưa thớt, thèm nghe một tiếng thở tinh khôi của thành phố, thèm nghe mùi bình lặng buồn chậm, họ không quen với ngột ngạt, với hăng nồng khói xe của phố thị.

Tôi cũng đã rất nhiều lần rơi vào cảm giác ấy. Đi xa, vui vài ngày, lạ mắt với những tiện nghi, sự khó ở trong người vì thế cũng tăng lên vài kí lô, nhớ Đà Lạt đến cồn cào. Chạm ngõ phố núi, người nhẹ đi, thanh thoát, tâm tĩnh lại … à thì ra thế! Ai đó có thể nói người Đà Lạt chậm, đời sống buồn tẻ, tôi lại nghĩ khác, giữa cái thời buổi nháo nhào lên vì tiền, vì lo toan, vì hội nhập, sống chậm lại là một “món quà”, là một đặc ân mà chẳng dễ dầu gì người ta có được.

Đà Lạt mùa này như một người phụ nữ ôm con đứng bên bậu cửa nhìn ra vô định. Người mẹ ấy vẫn muốn dẫn con ra ngoài rong chơi, nhưng ngại mưa, thôi thì ủ ấm đứa trẻ trong hơi ấm của bầu ngực, ở đó đứa bé được an toàn, được bình yên. Có lẽ vì thế người ta cũng tìm đến Đà Lạt nhiều hơn trong những ngày mưa, họ về để được Đà Lạt hong ấm lại tình người, để được chở che trong hơi sữa ngọt lành của phố sương, nơi đó họ thấy mình đáng được sống sau những nóng rẫy, bó buộc, ngột ngạt của hộp bê tông và kính.

Cô bạn cũ của một thời, hình như xa lắm, bất chợt như mưa Đà Lạt mùa này bỗng dưng gọi điện, muốn vào Đà Lạt. Tôi hỏi lý do, nghe đâu trong được mất, nhớ quên là muốn được tránh xa phố thị, muốn được một mình, thèm được cảm giác cô đơn tĩnh lặng trong mưa.

Sẽ rất khó, bởi Đà Lạt chưa bao giờ có chỗ cho sự cô đơn, lẻ bóng. Ở xứ này, người ta cần nhau hơn bao giờ hết, trong mưa lạnh họ luôn cần một cái nắm tay, một bờ vai. Bạn hãy tưởng tượng nhé, nếu một mình lạc bước trong chiều mưa, bạn trông chờ điều gì nhất?… Ở thành phố này kể cả khi nằm xuống họ vẫn cần có đôi, không tin ư? Đồi thông hai mộ là một minh chứng! Chẳng phải vì thế, nơi đây vẫn được gọi là thành phố tình yêu và nỗi nhớ đấy sao.

Mùa này, Đà Lạt mưa nhiều, nhưng mọi bước chân tình nhân vẫn tìm đến. Nơi đây không có mùa, chỉ có mùa của tình yêu, mùa của sự ở lại…

Tùy bút: LAM ANH (Báo Lâm Đồng)

Leave a comment

Hoa và Rượu – Nguyễn Bính

HoaVaRuou

Thấy rét u tôi bọc lại mền,
Cô hàng cất rượu ủ thêm men,
Mẹ cha mất sớm còn em nhỏ,
Say cả tư mùa cho khách quen.

Em nhỏ là Nhi, bạn nhỏ tôi,
Suốt ngày hai đứa nhẩn nha chơi.
Chị Nhi bán rượu đôi chiều chợ,
Vẫn nhớ mua quà cho cả đôi.

Hai đứa thường nhân buổi vắng nhà,
Người ta bắt chước chị người ta!
Ra vườn nhặt những hoa cam rụng,
Về bỏ đầy nồi cất nước hoa.

Nước hoa tuy chẳng thơm là mấy,
Hai đứa bôi đầy cả tóc nhau.
Hí hửng bảo nhau: “Thơm đấy chứ,
Nước hoa ngoài tỉnh thấm vào đâu!”

Một tối nhà Nhi có giỗ thầy,
Chị Nhi cho uống rượu cay cay,
Chừng đâu chén nhỏ làm hai đứa
Mặt đỏ lên rồi chếnh choáng say.

Hai đứa ôm nhau đánh giấc dài,
Bất đồ ngủ đến sáng ngày mai.
Chị Nhi cứ chế làm sao ấy,
Hai đứa nhìn nhau ngớ ngẩn cười.

Chị Nhi thường nói với u tôi:
“- Hai đứa, thưa bà, đến đẹp đôi!”
U tôi cười đáp ngay như thật:
“- Tôi có nàng dâu giúp đỡ rồi!”

Thuở ấy làm sao thật thái bình,
Trai hiền bạn với gái đồng trinh.
Đời say men rượu thơm hoa rụng,
Tràn những thơ ngây, ngập cảm tình.

Ấy thế mà rồi cách biệt nhau,
Nhà Nhi không biết chuyển đi đâu.
Mình tôi giời bắt làm thi sĩ,
Mẹ mất khi chưa bạc mái đầu.

Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh,
Tôi đi dan díu với kinh thành.
Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới,
Chuốc mãi men say rượu ái tình.

Rượu ái tình kia thành thuốc độc,
Vườn trần theo bướm phấn hương bay.
Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,
Hoa hết thơm rồi rượu hết say.

Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu,
Ba bốn năm rồi năm sáu năm.
Khóc vụng mỗi lần tôi nhớ lại,
Men nồng gạo nếp nước hoa cam.

Xa lắm rồi Nhi! Muộn lắm rồi,
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ,
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi.

Chắc ở nơi nào dưới mái tranh,
Chị em Nhi vẫn sống yên lành.
Chị Nhi cất rượu cho Nhi bán,
Hồn vẫn trong và mộng vẫn trinh.

Ngày xưa con bé Nhi còn đẹp,
Huống nữa giờ Nhi đã đến thì.
Tháng tháng mươi mười lăm buổi chợ,
Cho người thiên hạ phải say Nhi.

Xóm chị em Nhi ở mấy nhà ?
Bến đò đông vắng ? Chợ gần xa ?
Nhà Nhi thuê có vườn không nhỉ ?
Vườn có trồng cam có nở hoa ?

Mơ tưởng vu vơ lòng dối lòng,
Thực ra có phải thế này không.
Chị Nhi đã lấy chồng năm trước,
Nhi đến năm sau lại lấy chồng ?

Ước gì trên bước đường lưu lạc,
Một buổi chiều nào lạnh gió mưa,
Gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ,
Giật mình tôi thấy tiếng Nhi thưa.

Ngồi bên lò rượu đêm hôm đó,
Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu.
Nhắc lại ngày xưa mà thẹn lại,
Ngậm ngùi hai đứa uống chung nhau.

Tôi kể: “U tôi đã mất rồi,
Cửa nhà còn có một mình tôi …”
Nhi rằng: “Ngày trước u thường nói
Hai đứa mình trông đến đẹp đôi …”

“Chị em mới lấy chồng năm trước,
Chồng chị trồng cam ở mé sông.
Em ở mình đây nhà trống trải,
Trăng vàng đầy ngõ gió mênh mông …”

Như truyện Tương Như và Trác Thị
Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng
Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng.
Tôi với em Nhi kết vợ chồng.

Rượu cất kỹ ngon, men ủ khéo,
Say người thiên hạ lại say nhau.
Chiều chiều hai đứa sang thăm chị,
Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu.

Chao ôi! Là mộng hay là thực ?
Là thực hay là mộng bấy lâu ?
Hai đứa sống bằng hoa với rượu,
Sống vào trời đất, sống cho nhau.

Nhưng mộng mà thôi, mộng mất thôi,
Hoa thừa rượu ế, ấy tình tôi.
Xa rồi vườn cũ hoa cam rụng,
Gặp lại nhau chi muộn lắm rồi.

Nguyễn Bính (Huế 1941)

,

Leave a comment

[22.11.2015]

12243009_10206481576932619_1981970557902034138_n

 

Một con người tuyệt vọng, bán đi những hy vọng để mưu sinh ….

Gương mặt ấy, sao mà giống Bùi Giáng đến vậy!

Leave a comment

[10.11.2015]

hoa-co-may2

Về quê!

Đi thăm mộ, thắp nhang.

Hoa cỏ may vương đầy nơi vạt áo ….

©

,

Leave a comment

Wabi-Sabi là gì?

Wabi Sabi cho hoạ sĩ, nhà thiết kế, thi sĩ và triết gia

Tác giả: Leonar Koren

Người dịch: depvabuon.blogspot.com

Lời giới thiệu 

Wabi Sabi là vẻ đẹp của những thứ bất toàn, vô thường và chưa trọn vẹn.

Là vẻ đẹp của những thứ khiêm tốn và nhún nhường.

Là vẻ đẹp của những thứ bất thường.

Vẻ đẹp đang bị lụi tàn. Chất xúc tác mạnh mẽ nhất cho cuốn sách này là sự phổ biến rộng rãi của trà đạo Nhật Bản. Thẩm mỹ Wabi Sabi đã có một thời gian dài hình thành và phát triển cùng trà đạo và đây cũng là một sự hứa hẹn cho một kinh nghiệm Wabi Sabi sâu sắc.

Hiroshi Teshigahara, vị Iemoto truyền thừa, nghệ nhân của trường dạy hoa đạo Sogetsu, đã ủy nhiệm cho ba kiến trúc sư nổi tiếng và thời thượng nhất Nhật Bản  thiết kế và xây dựng cho họ một không gian dể tổ chức các buổi trà đạo. chính Teshigahara cũng đóng góp một phần tư ý tưởng(1). Sau ba giờ bắt xe lửa và xe bus từ văn phòng của tôi tới đây, nơi mà trước kia là nền móng cũ khu nghỉ dưỡng mùa hè của hoàng tộc. Cái làm tôi thấy thất vọng là tôi chứng kiến một thứ tôn vinh sự tráng lệ , hùng vĩ và quyền lực, hầu như không có dấu vết nào của Wabi Sabi. Một căn trà thất mô phỏng túp lều trông mượt mà có vẻ như làm từ giấy lại như một chiếc ô lớn bằng nhựa trắng. Liền kề đó  là một kết cấu bằng kính, thép và gỗ trông có vẻ khá gần gũi với những tòa cao ốc văn phòng. Căn trà Wabi Sabi mà tôi kỳ vọng khi nhìn nhìn kỹ lại  xuất hiện thêm những chi tiết hậu hiện đại được thêm vào một cách vu vơ không đâu. Tôi chợt nhận ra rằng một lúc nào đó, Wabi Sabi –  thứ thẩm mỹ vượt trội – linh hồn của trà đạo đã trở nên một thứ gây nguy hiểm(2).

Phải thừa nhận là, vẻ đẹp Wabi Sabi không phải là “gu” chung của mọi người. Nhưng tôi tin tất thảy mọi người đều không muốn vẻ đẹp này bị mất đi. Sự đa dạng văn hóa là một niềm mong mỏi khi mà  khi mà xu hướng mọi thứ kinh nghiệm cảm xúc đều được đồng bộ hóa, nơi mà một “độc giả” điện tử đứng giữa  kinh nghiệm và sự quan sát, và tất cả những hiển thị đều được số hóa như nhau.

Ở Nhật  không giống như châu Âu và một phần nhỏ hơn ở Châu Mỹ, những chất liệu văn hóa bé nhỏ nhưng quý giá vẫn được giữ gìn. Vì vậy ở Nhật, bảo tồn một vẻ đẹp vũ trụ khỏi bị hoại diệt có nghĩa là, trong những ngày tháng muộn màng này, không đơn thuần chỉ là vật thể hay những đền đài mà là cả một hệ thống tư tưởng  thẩm mỹ mong manh còn sót lại trong bất kỳ một dạng tồn tại nào. Bởi lẽ Wabi Sabi không dễ dàng gì để đúc rút thành một dạng hình hay một lối diễn đạt rõ ràng được nên việc bảo tồn nó càng trở nên một công việc thật sự dễ làm ta nản lòng.

Vẻ đẹp duy tâm. Giống như nhiều người cùng thời với tôi, trước tiên tôi đã học hỏi về Wabi Sabi trong suốt những năm tháng tuổi trẻ với tinh thần hăng say của những năm cuối thập kỉ 60. Vào thời đó, minh triết văn hóa truyền thống Nhật Bản hứa hẹn một câu trả lời sâu sắc cho những câu hỏi dai dẳng của cuộc sống. Wabi Sabi với tôi như một kiểu mẫu thẩm mỹ nền tảng giúp phục hồi lại những thước đo đúng đắn về sự sáng suốt và cân bằng trong cuộc sống. Wabi Sabi giải quyết  được những phân vân nghệ thuật của tôi về việc làm sao có thể tạo nên những thứ đẹp đẽ mà không bị vướng bận vật chất như đầy rẫy những thứ “nghệ thuật” quanh mình bấy giờ. Wabi Sabi- sâu thẳm, đa chiều và khó nắm bắt – xuất hiện như thứ thuốc giải cho xã hội Mỹ khỏi bị tê liệt trong sự mượt mà, ngọt ngào quện lẫn trong vẻ đẹp. Tôi bắt đầu tin Wabi Sabi liên quan tới thứ thẩm mỹ ngày càng nhấn mạnh vào sự đi ngược lại những trào lưu của tuổi trẻ, hiện đại như nhạc punk, grunge(một thể laoij nhạc rock) hay những bất kì thứ  nào được gọi là cái mới

Trà thư. Lần đầu tôi đọc về Wabi Sabi trong cuốn trà thư của Kazuko Okakura, được xuất bản 1906. Mặc dù Okakura đã chạm tới khá nhiều mặt của Wabi Sabi, ông tránh dùng cụm từ” Wabi Sabi”. Có lẽ ông không muốn làm rối trí độc giả của mình bởi những từ nước ngoài mà không hoàn toàn cần thiết cho những ý tưởng thảo luận về thẩm mỹ của mình. (cuốn sách viết bằng tiêng Anh cho những độc giả không biết tiếng Nhật). Có lẽ ông cũng tránh đề cập tới phạm trù này vì vốn đã đầy gai góc cho ngay cả giới trí thức Nhật Bản.

Sau gần một thế kỷ cuốn sách ra đời, phạm trù Wabi Sabi cũng chỉ xuất hiện một cách qua loa trong sách vở và tạp chí  bàn về trà đạo hay những bí mật nhà nghề của Nhật Bản. Thi thoảng, đôi ba câu cũng nhắc đến trong những miêu tả về Wabi Sabi (thường là những câu mở dầu trong phần giới thiệu) cũng theo cách hời hợt như vậy. Và cụm từ này còn được dùng như một cách nói nhạo báng của những nhà phê bình trong và ngoài nước nhắm tới những thử nghiệm nghệ thuật khó hiểu của những người hâm mộ văn hóa truyền thống Nhật Bản.

Có lẽ giờ đây là thời điểm hứa hẹn văn hóa có thể vượt ra ngoài những định nghĩa đóng khung, có thể ngụp lặn sâu hơn một chút trong chiều sâu âm u. Trong  tinh thần này tôi đã tìm ra vài mảnh ghép của Wabi Sabi – mờ xỉn, vỡ vụn, hư nát trong khi có thể được phục hồi – và nỗ lực ghép chúng lại với nhau để tạo nên một cái gì đó có nghĩa. Tôi đã đi được một quãng đường xa bằng những nhà thẩm định giá trị Wabi Sabi, những sử gia, nhà văn hóa đi được – và sau đó đã bước xa thêm một chút. Cố gắng hiểu bản chất ẩn sâu bên dưới, kết nối tư tưởng với hành động, tôi cố gắng nắm bắt tất cả, chính thể luận của Wabi Sabi và làm cho nó mang một ý nghĩa nhất định(3). Kết quả là trong tập sách mỏng này, chỉ như một sự ướm thử, là bước đầu cá nhân tôi trên con đường “gìn giữ” những giá trị mà xưa kia đã từng là một thứ thẩm mỹ được thấu hiểu và nhận biết rõ ràng.

Lịch sử một định nghĩa cố tình bị lảng tránh

Khi được hỏi Wabi Sabi  là gì, hầu hết người Nhật đều lắc đầu e ngại và đưa ra lời xin lỗi cho việc khó có  thể giải thích một cách rõ ràng. Mặc dù họ đều cho rằng mình có thể hiểu được ý nghĩa của nó bởi nói cho cùng thì đó là một trong những giá trị cốt lõi của văn hóa Nhật Bản, song rất ít người có thể nói một cách rõ ràng về thứ cảm giác này.

Tại sao vậy? Bởi vì, như một số người theo chủ nghĩa Sô-vanh cho rằng, cần thiết phải có thứ tố chất bản địa? Gần như vậy. Bởi vì tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ  thích hợp cho việc truyền tải những thông điệp mang nhiều tính cảm xúc, mơ hồ, thứ logic của con tim chứ không thích hợp cho kiểu lý tính rõ ràng. Một phần nào đó có thể đúng, nhưng lý do chính mà người Nhật không được hoc về khái niệm Wabi Sabi  một cách chính thống có lẽ là do không có một quyển sách hay vị thầy nào dạy về vấn đề này.

Điều này không phải là ngẫu nhiên, trong suốt lịch sử thì một cách hiểu lý tính về Wabi Sabi  đã ngầm bị loại bỏ từ trước.

Thiền tông. Gần như từ khi ra đời như một giá trị thẩm mỹ khác biệt, Wabi Sabi đã có  cùng vùng ngoại biên với thiền tông. Thậm chí nhiều khi Wabi Sabi còn được gọi là “Zen of things”, như một minh họa cho rất nhiều giáo lý minh triết của nhà Thiền(4). Người Nhật đầu tiên có liên hệ tới Wabi-Sabi là một vị trà sư, một nhà tu hành, một vị thiền sư đã hành thiền và đã đạt tới đại ngộ. Một trong những tư tưởng lớn của Thiền tông là loại bỏ sự huyên náo. Hiểu biết chân thật trong nhà Thiền, chỉ có thể chuyển giao trong tâm thức, không thể viết hay nói ra. “Người biết không nói, người nói thì không biết”. Ở cấp độ mới bắt đầu, những lời giáo huấn này được nhắc nhở luôn để tránh sự hiểu sai về phạm trù vốn rất dễ bị nhầm lẫn này. Vậy nên, một định nghĩa rõ ràng  nhằm giải thích khái niệm Wabi-Sabi  là một thứ đã bị cố tình tránh né.

Hệ thống Iemoto. Từ thế kỉ 18, việc tổ chức và trao truyền những tinh hoa văn hóa nghệ thuật Nhật Bản như trà đạo, hoa đạo, thư pháp, ca vũ kịch  là công việc của một nhóm người tinh yếu trong gia tộc. Thành viên đứng đầu gia tộc trong mỗi nhóm này được gọi là Iemoto(5). Việc đặt tên loại hình, tạo tác hay chọn loại hình nghệ thuật để theo đuổi được quyết định hoàn toàn bởi các Iemoto. Cũng như trong Thiền tông, tinh yếu nhất định chỉ trao truyền cho một số người được chọn lựa. Wabi Sabi, một phần trọng yếu trong kho tài sản trí tuệ của Iemoto ( đặc biệt trong lĩnh vực trà đạo) là thứ không thể trao đi – trừ phi đó là một cuộc chuyển giao có giá trị tiền bạc hoặc vì lòng yêu thích. Những khái niệm mơ hồ và lạ lùng kiểu Wabi Sabi  cũng nhiều khi cũng được vận dụng khôn khéo để tạo nên một thương vụ kiếm lời. Sự mơ hồ về ý nghĩa lại dường như trêu ngươi những khách hàng mù mờ về giá trị thực của Wabi Sabi, đó chính là mối làm ăn cho những Iemoto giả hiệu.

Thứ thẩm mỹ mơ hồ. Ý nghĩa hiển minh của Wabi Sabi được bao bọc trong sự huyền bí vì những lý do mang tính thẩm mỹ. Vài nhà phê bình Nhật Bản cảm thấy rằng Wabi Sabi cần duy trì trong đặc tính khó hiểu, mơ hồ và khó định nghĩa bởi sự khó có thể nắm bắt lại chính là một phần trong tính đặc sắc của nó. Wabi Sabi , họ tin rằng, là một điểm cùng đích, chứa một cái kết trong chính mình, không bao giờ được nhận diện một cách hoàn toàn. Từ ưu thế này, sự không thể định nghĩa hay nắm bắt lại đơn giản  là một mặt không hoàn hảo sẵn có của Wabi Sabi. Bởi tính logic, sáng sủa rõ ràng không phải là tính chất của Wabi Sabi nên việc cố công giả thích hay định nghĩa lại chính là làm cho ý nghĩa của nó hạn hẹp đi.

Có thể những nhà phê bình đúng. Trong địa hạt thẩm mỹ, những lý do luôn lệ thuộc vào nhận thức và cảm giác. Trong truyền thống, những nghệ nhân làm kiếm và người thẩm định thường nói về thứ năng lượng tâm linh tiềm ẩn trong mỗi thanh kiếm, đó là thứ thần bí nhất. Ngày nay, những người trẻ tuổi được học hành và thực nghiệm đầy đủ về mọi yếu tố như nhiệt độ chính xác của lò nung, tỉ lệ thành phần kim loại và cả thời điểm khi mà thanh kiếm đạt được “tính” cần thiết – độ linh hoạt, độ cứng, tính dẻo dai…hay chính linh hồn của thanh kiếm được thực sự hình thành. Có lẽ những cách thức mới có phần bộc trực này làm giảm đi sự lãng mạn của cái gì đó còn trong tưởng tượng. Nhưng nếu có thể góp phần bảo tồn một giá trị thẩm mỹ độc đáo, một vài cột chỉ đường thiết nghĩ cũng nên cần dựng lên cho thế hệ mai sau.

Một định nghĩa tạm thời

Wabi Sabi là nét đặc thù và rõ ràng nhất khi ta nghĩ tới vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản. Nó chiếm một vị trí vô cùng to lớn, tựa như một “đền Phatheon của Nhật Bản ” về những giá trị thẩm mỹ, cũng giống như những lý tưởng của Hy Lạp về vẻ đep và sự hoàn hảo  ở phương Tây(6). Wabi Sabi, chính nó đã chứa một sự diễn tả đầy đủ nhất về một lối sống. Hay ít nhất, đó cũng là một vẻ đẹp độc đáo.

Trong tiếng Anh, từ vựng có nghĩa gần nhất Wabi Sabi có lẽ là “rusty”. Theo định nghĩa của Webster, “rusty” có nghĩa là sự đơn giản, không màu mè, mộc mạc…(với) bề mặt thô nhám, không trơn nhẵn. Mặc dù “rusty”chỉ diễn tả được một chiều kích giới hạn của khái niệm thẩm mỹ Wabi Sabi, nó vẫn là ấn tượng ban đầu của rất nhiều người khi bắt gặp những thứ Wabi Sabi . Wabi Sabi mang một vài đặc điểm gần giống với cái mà ta gọi là “nghệ thuật nguyên thủy”. Đối tượng sáng tạo là đất, đó là thứ nguyên liệu mộc mạc, gần gũi nhất mà có lẽ cũng ra đời sớm nhất trong tự nhiên. Nhưng khác với “nghệ thuật nguyên thủy”,  Wabi Sabi  không dùng những dạng tượng trưng hay biểu tượng.

Ban đầu, hai từ”wabi” và “sabi” có nghĩa hoàn toàn khác nhau. “Sabi” nguyên nghĩa là lạnh lẽo, hoang tàn. Còn “Wabi” nguyên nghĩa là sự cô tịch, trạnh thái buồn bã, yếm thế. Khoảng thế kỉ XIV, nghĩa của hai từ này mới bắt đầu đi theo chiều hướng của những giá trị thẩm mỹ tích cực hơn. Lựa chọn  cuộc sống ẩn dật và thanh đạm của những nhà tu hành theo lối khổ hạnh được cho là càng có nhiều cơ hội cho sự phát triển phong phú về mặt tinh thần. Khuynh hướng, cách sống nên thơ này mang trong mình một thái độ sống trân trọng mọi thứ, ngay cả những chi tiết nhỏ bé vụn vặt thường ngày, khả năng nhìn ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong, những bình diện của thiên nhiên thường không mấy ai nhìn ra. Đến lượt những thứ nhỏ bé tầm thường lại mang một ý nghĩa mới mẻ như là nền tảng của cái mới, cái đẹp thuần khiết.

Qua hàng thế kỉ, ý nghĩa của “wabi” và “sabi” ngày nay đã có nhiều thay đổi và ranh giới giữa chúng thật sự đã bị xóa nhòa. Khi một người Nhật nói “wabi” thì cũng có thể họ đang nói về “sabi” và ngược lại. Thường thì họ đơn giản gọi chung là “Wabi Sabi”,  đó cũng là một quy ước ngầm trong cuốn sách này. Nhưng nếu chúng ta coi  “wabi” và “sabi” như những phần tử riêng biệt thì có thể phân loại chúng như sau:

WABI

SABI

·         Một cách sống, một con đường tâm linh

·         Hướng nội, chủ thể

·         Một cấu trúc có tính triết học

·         Thứ thuộc không gian

·         Chất liệu, nghệ thuật, văn học

·         Hướng ngoại, khách thể

·         Một lý tưởng thẩm mỹ

·         Thứ thuộc thời gian

Một phép so sánh với chủ nghĩa hiện đại

Để có một mường  tượng rõ ràng hơn về Wabi Sabi là cái gì và không là cái gì – có lẽ tốt hơn là ta nên đặt nó trong phép so sánh và tương quan với chủ nghĩa hiện đại, khuynh hướng thẩm mỹ chiếm ưu thế của xã hội mang tính toàn cầu hóa của nửa sau thế kỉ XX. “Chủ nghĩa hiện đại” lại là một phạm trù khác vốn khó nắm bắt đã để lại một vết cắt lớn trong lịch sử nghệ thuật sáng tạo, trong hành xử và triết học. Ở đây chúng ta đang nhắc tới “chủ nghĩa hiện đại” chính thống, cái  mà hiện thân của nó là hầu hết tác phẩm được trưng bày trong những bộ sưu tập của bảo tàng nghệ thuật hiên đại ở NewYork. Nghệ thuật hiện đại chính thống bao gồm hầu hết là những trang thiết bị đường nét sắc sảo đi theo trường phái tối giản, máy móc, ô tô và cả những đồ dùng được sản xuất từ thế chiến thứ II. Nó còn bao gồm cả bê tông, sắt thép, những tòa cao ốc được bao bọc kính bên ngoài như  kiểu kiến trúc của chính cái bảo tàng này.

Giống nhau:

  • Cả hai đều được áp dụng trong những đối tượng, không gian và thiết kế của con người.
  • Chúng đều có động thái mạnh mẽ đi ngược lại những trào lưu chiếm ưu thế thời đó, chủ nghĩa hiện đại là một sự chuyển hướng căn bản từ chiết trung cổ điển từ thế kỉ XIX. Wabi Sabi là sự chuyển hướng căn bản từ kiểu cách cầu toàn, tráng lệ của Trung Hoa cổ điển thế kỉ XVI và trước đó.
  • Đều tránh bất cứ một thứ trang trí nào trọn vẹn, hoàn hảo về mặt kết cấu.
  • Chúng đều trừu tượng, không mang tính đại diện cho cái đẹp lý tưởng
  • Đều mang trong mình những đặc trưng dễ dàng  nhận biết. Chủ nghĩa hiện đại  không tì vết, bóng bẩy, mượt mà. Wabi Sabi mộc mạc, bất toàn và bất thường.

Khác nhau(7):

CHỦ NGHĨA HĐ

WABI SABI

·         Phạm vi cộng đồng

·         Gợi ra một thế giới quan có tính logic

·         Hoàn toàn

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính toàn cầu, nguyên mẫu

·         Sản xuất hàng loạt

·         Hướng tới tương lai

·         Tin tưởng vào sự chi phối của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa công nghệ

·         Con người thích ứng với máy móc

·         Dạng hình học(sắc nhọn, chính xác, vuông thành sắc cạnh)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái hộp( được bao kín bởi những đường thẳng chính xác)

·         Vật liệu nhân tạo

·         Có vẻ ngoài trơn nuột

·         Cần bảo quản tốt

·         Độ tinh khiết,không pha tạp càng làm giàu sức biểu hiện hơn

·         Làm suy giảm thông tin có được từ mặt giác quan

·         Không khoan nhượng với sự mơ hồ,mâu thuẫn

·         Lạnh

·         Thường sáng sủa tươi mới

·         Chức năng và tiện ích là những giá trị cơ bản

·         Vật liệu hoàn hảo là một lý thưởng

·         Trường tồn

·         Phạm vi cá nhân

·         Gợi ra một thế giới quan mang tính trực giác

·         Tương đối

·         Tìm kiếm những giải pháp mang tính cá nhân, phong vị riêng

·         Không trùng lặp nhau

·         Hướng tới hiện tại

·         Tin vào những cái bất khả tri thuộc về bản chất của tự nhiên

·         Lãng mạn hóa tự nhiên

·         Con người thích ứng với tự nhiên

·         Dạng hữu cơ( hình, viền mềm mại và không rõ ràng)

·         Hình ảnh ẩn dụ là cái bát( hình dáng tự do, mở ở phía trên)

·         Vật liệu từ thiên nhiên

·         Có vẻ ngoài thô nhám xù xì

·         Hợp với vẻ tàn phai, hư hoại do thời gian

·         Sự hao mòn, phai tàn càng nói lên được nhiều thứ hơn

·         Làm gợi mở hơn thông tin có tính giác quan

·         Hài lòng với sự mơ hồ và mâu thuẫn

·         Ấm

·         Thường tối và mờ xỉn

·         Chức năng và tiện ích không quá quan trọng

·         Sự phi vật chất hoàn hảo là một lý tưởng

·         Mọi thứ đều ngắn hạn

Lịch sử ra đời

Trước thời Rikyu. Lý tưởng đầu tiên truyền cảm hứng cho tính siêu hình, tinh thần và chuẩn mực đạo đức của Wabi Sabi là sự đơn giản, tự nhiên, chấp nhận thực tại được tìm thấy trong đạo Lão và thiền tông Trung Hoa. Trạng thái Wabi Sabi của tâm thức và ý thức về chất liệu đều được chuyển hóa từ bầu không khí sầu muộn, ảm đạm và bút pháp tiết chế tối đa của thơ ca và hội họa (tranh thủy mặc) Trung Hoa ở thế kỉ IX và thế kỉ X. Vào cuối thế kỉ XVI, những thành tố riêng rẽ này đã được hợp nhất lại thành một chất liệu rất “Nhật Bản”. Mặc dù Wabi Sabi nhanh chóng thẩm thấu vào hầu hết các mặt của trào lưu văn hóa và phong vị của Nhật Bản, nhưng nó chỉ đạt tới đỉnh cao trong khuôn khổ của trà đạo.

Có nhiều tên gọi khác nhau như Sado, Chado và Chanoyu, trà đạo đã trở thành một bộ môn nghệ thuật xã hội kết tinh có tính chắt lọc giữa những môn nghệ thuật khác như kiến trúc, nội thất, ngoại thất sân vườn, cắm hoa, hội họa, ẩm thực và trình diễn. Sự thành công của người thực hành bộ môn này là làm sao cho có thể sắp xếp hài hòa những hình thức thức nghệ thuật trên và khách tham gia trong một không gian thú vị mà tĩnh lặng và thường có một chủ đề xuyên suốt bên trong(8). Đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật, đạt tới nhận thức vũ trụ trong ý niệm Wabi Sabi một cách đầy đủ nhất chính là mục đích bên trong của trà đạo.

Vị thầy đầu tiên được ghi nhận là Muratashuko, một vị thiền sư đến từ Nara. Thời đó trong xã hội thế tục thì trà đạo được coi là một thú vui tao nhã được ưa chuộng trong một bộ phận không nhỏ. Bởi vì, tiếng tăm và sự giàu có dường như gắn liền với việc sở hữu những món đồ pha trà quý hiếm, tinh xảo ngoại lai(9). Shuko, đi ngược lại với trào lưu này, cố ý sử dụng những đồ bản địa ở bất kì đâu, đó chính là khởi nguyên của thẩm mỹ Wabi Sabi trong  trà đạo.

Thời Rikyu. Một trăm năm sau sự ra đời những đột phá của Shuko, Wabi Sabi đã được “thần thánh hóa” nhờ Sen no Rykuy (1522-1591). Là con của một thương gia, Rikyu đã bắt đầu yêu thích trà đạo từ năm 17 tuổi(10). Đầu tiên Rikyu được biết tới như một nghệ nhân pha trà cho vị  thống soái Oda Nobungana hùng mạnh. Sau khi Oda Nobungana bị ám sát vào năm 1582, Rikyu chuyển sang phụ vụ cho người kế thừa của ông ta, một kẻ tài giỏi và lập dị là Toyotomi Hideyoshi. Rikyu, với 9 nghệ nhân pha trà khác, đã giúp Hideroshi thu nhận và đánh giá đúng những trà cụ qua việc thấu hiểu những nghi thức phức tạp và dụng cụ được sử dụng trong một nghi lễ trà đạo. mặc dù cuối thế kỉ XVI chiến tranh liên miên nhưng vẫn tồn tại một thời hoàng kim của sáng tạo trong nghệ thuật. Trong trà đạo thì đã có những thử nghiệm đáng kể với một cơ số dụng cụ, không gian kiến trúc và các kiểu lễ nghi. Giữa những luồng văn hóa vũ bão thì Rikuy vẫn tin tưởng vào chiến thắng của những lý tưởng thẩm mỹ có giá trị lâu dài : công khai đặt những thứ có vẻ thô mộc như đồ thủ công truyền thống của Hàn Quốc và Nhật Bản – những thứ có thể gọi là Wabi-Sabi ngang tầm, thậm chí còn cao hơn một bậc những món đồ xa xỉ, hoa mĩ, toàn bích của Trung Hoa(11). Rikyu cũng sáng tạo nên một kiểu trà thất dựa trên nguyên mẫu là túp lều của người nông dân với mái lợp rạ, tường đất xù xì và những cột kèo méo mó. Sau đó Rikyu còn giản lược trà thất chỉ còn một diện tích đáng kinh ngạc bằng 2 tấm tatami, khoảng chừng 39 feet vuông. (12)

Thật không may, những giá trị quay về nguyên bản, về sự mộc mạc tự nhiên mà Rikyu khởi xướng lại không được hoan nghênh và đánh giá cao ở thời đó. Hideroshi, một người vốn xuất thân từ nông dân đã nghi ngờ khiếu thẩm mỹ của Rikyu về những thứ mà thường bị cho là xấu xí. Liệu Rikyu có nhẫn tâm may cho hoàng đế “một bộ quần áo mới”? Trong lý tưởng thẩm mỹ của Hideroshi, cái đẹp là phải phô diễn được sự xa hoa khôn xiết: một trà thất được dát bằng vàng. Thẩm mỹ của Rikyu đứng trước nguy cơ làm rạn nứt mối qua hệ giữa họ, trong khi vốn Hideroshi đã sẵn ghen tị với việc Rikyu ngày càng được hoan nghênh. Sự bất cẩn về chính trị của Rikyu cộng với lợi lộc từ những Trà cụ  đã đần đẩy Hideroshi tới hành động ép Rikyu phải tự sát vào tuổi 70.

Sau Rikyu. Mối băn khoăn hoài nghi của những trà hội viên  từ sau cái chết của Rikyu, đã tìm được lời giải từ những lời truyền dạy chân thật của ông (không giống như những lời răn của Chúa hay đấng Mohammed đòi hỏi ở họ một sự vâng lời và thông suốt)(13). Trong giai đoạn này, những phán xét hay tưởng tượng mang tính cá nhân đã bị vắt kiệt khỏi trà đạo. Thậm chí hầu hết những cử chỉ động tác nhỏ nhất  của tay có tính nghi lễ khá cứng nhắc được duy trì và hầu như không thay đổi từ thời Rikyu ( lý do ở đây là Rikyu đã đạt tới một phương cách hoàn hảo nhất để sử dụng trà cụ với sự hạn chế tối đa những động tác thừa thãi làm hao tổn năng lượng) .

Khoảng 100 năm sau cái chết của Rikyu, “nghệ thuật” trà lại tìm được cái “đạo”của nó (chado), có vẻ như đó là một thứ tôn giáo hay phép rèn luyện tinh thần. Trong suốt quá trình bị biến đổi, Wabi Sabi, cốt lõi của trà đạo đã bị thu gọn lại, đơn giản hóa và gói gọn trong những lời dạy, những luật lệ bất di bất dịch. Wabi Sabi dường như đang trượt dần trên con đường tới cái điểm đối nghịch của nó: sự mượt mà, bóng bảy, sáng rõ.

Trên một mặt khác, các tổ chức- trường học phi lợi nhuận dạy về trà đạo có thể gọi là những bảo tàng sống kế thừa lịch sử giúp duy trì và bảo tồn một cách nguyên bản những nghi thức truyền thống. (Sự tập duyệt, sau tất cả, là cốt lõi của truyền thống). Cũng có thể nói rằng nếu không có những tổ chức này, Wabi Sabi – phần còn sót lại sẽ bị tàn lụi có lẽ còn nhanh hơn cả sự Âu hóa điên cuồng trên khuôn mặt Nhật Bản. Ngoài ra, việc thực hành nghi lễ còn có giá trị như một bài tập thiền. Những động tác “vô trí” lặp đi lặp lại có vẻ máy móc và cho phép ta đơn giản là tập trung  vào cái “đang là” mà không bị phân tâm bởi việc quyết định, thể hiện kĩ xảo hay những cái khác.(14)

Tuy nhiên, Wabi Sabi đã không còn là tư tưởng hay tinh thần chính yếu của trà đạo nữa, mặc dù có vài thứ nghe có vẻ Wabi Sabi, nhìn trông có dáng dấp Wabi Sabi, tên gọi và kiểu cách đúng như vậy – nhưng vẫn trật lất! Thay vào đó, Wabi Sabi  đã bị thay thế bởi những trường, hội  trà đạo hướng vào “hòa bình thế giới” hay “giao tiếp sâu thẳm giữa con người”(15). Như một phản ứng nhằm trì hoãn lâu dài với việc vắng bóng của Wabi Sabi thực sự, một số thành viên cấp tiến của các hội chính thống đã tìm đến nghệ thuật đương đại để mong tìm được sự kết nối tạm thời với Wabi Sabi(16). Nền tảng khôn ngoan của thứ Wabi Sabi mới này là  hệ thống lại của Rikyu về một câu châm ngôn trong nhà thiền, đại loại là “lần đầu cũng có thể là lần cuối”, hàm ý ta phải tập trung hoàn toàn vào những thứ xảy ra ở đây lúc này. Liệu chủ trương đạo đức – tâm linh cận biên này có chứng tỏ được kết quả trực quan của nó trong việc đưa trà đạo đến một hướng sát với Wabi Sabi  hơn?(17)

Vũ trụ  quan Wabi Sabi

Lý thuyết cơ bản

Mọi thứ đang trong quá trình hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô.

Giá trị về mặt tinh thần

Chân lý đến từ sự quan sát thiên nhiên vạn vật.

Sự “vĩ đại” nằm ẩn sâu trong những thứ nhỏ bé bình dị.

Vẻ đẹp có thể tìm thấy ở những thứ tưởng chừng xấu xí.

Trạng thái tâm thức

Chấp nhận thực tại

Trân trọng trật tự vũ trụ

Châm ngôn đạo đức

Cho đi những thứ không cần thiết

Hướng vào bản chất bên trong, coi nhẹ những thứ bậc vật chất

Đặc tính Chất liệu

Mang ý niệm quá trình thời gian

Bất thường

Khiêm nhường

Mộc mạc

Tối

Giản đơn

Wabi Sabi có thể được gọi là một hệ thống thẩm mỹ phức hợp nhiều khái niệm. Thế giới hay vũ trụ quan cũng là phản chiếu chính bản thân. Nó cho ta thấy tính vạn vật đồng nhất thể là đặc tính chung của mỗi thực thể (siêu hình), cái toàn tri (tinh thần), cảm giác hạnh phúc (trạng thái tâm thức), cách hành xử (đạo đức), cách nhìn và cảm nhận mọi thứ (vật chất). Càng hệ thống hóa và làm rõ ràng từng khái niệm riêng lẻ hợp thành bao nhiêu, ta càng nắm rõ về khái niệm chung bấy nhiêu, càng có nhiều cách thức chỉ dẫn về cội nguồn ­– càng có nhiều ích lợi đem lại.

Lý thuyết cơ bản của Wabi Sabi

Vũ trụ như thế nào?

Mọi thứ đều đang hình thành hoặc hư hoại, tất cả đều là hư vô. Khi bóng tối bắt đầu bao phủ lên vùng đất hẻo lánh, một lữ khách đang băn khoăn cho chỗ nghỉ đêm nay. Anh bắt đầu để ý có rất nhiều thân cỏ sậy cao mọc khắp nơi, anh vòng tay ôm lại một ôm lớn, vẫn giữ chúng đứng trên mặt đất như ban đầu và thắt nút lại phía trên. Úm ba la, một túp-lều-cỏ-sống hiện ra. Sáng hôm sau, trước khi khởi hành cho một chuyến viễn du mới, anh tháo nút thắt và úm ba la, chiếc lều cỏ biến mất, mọi thứ trở lại như không có gì xảy ra. Sự hoang vu nguyên thủy quay trở lại, nhưng một vài chi tiết nhỏ nhặt của nơi trú ẩn vẫn còn sót lại. Một vài vết xoắn nhẹ vẫn còn ở đây hay ở kia, ký ức về chiếc lều cỏ vẫn còn trong tâm trí người lữ khách cũng như những độc giả đang đọc những dòng này. Wabi Sabi, trong hình thức thuần khiết và lý tưởng nhất là những dấu vết mong manh và hư ảo như vậy, đó là biên dạng của những thứ hư vô.(19)

Trong khi vũ trụ đang hư hoại thì cũng là nó đang hình thành. Nhiều thứ mới mẻ xuất hiện từ cái hư vô. Nhưng chúng ta không thật sự nhận ra nó bằng óc quan sát vội vã khi chúng đang hình thành hay tới hồi chuyển giao. Nếu ta không thấy sự khác biệt thì rất có thể ta sẽ nhầm lẫn một đứa bé mới sinh – bé nhỏ, nhăn nhúm, cong queo, trông hơi kì cục– với một ông già gần miệng hố. Trong hình dung về Wabi Sabi, có lẽ có đôi chút tùy tiện, mọi vật tới hồi  chuyển giao thường có xu hướng xuất hiện dưới dạng hơi tối tăm, mờ mịt và lặng lẽ. Những thứ đang hình thành có xu hướng sáng sủa hơn đôi chút, rõ ràng hơn và cũng bắt mắt hơn. Hư vô – không theo cách hiểu của phương Tây như một không gian trống rỗng hoàn toàn, mà nó ẩn chứa sự sống tiềm tàng. Trong khái niệm trừu tượng, Wabi Sabi gợi lên hình ảnh một vũ trụ không ngừng vận động.

Giá trị tinh thần của Wabi Sabi

Bài học của vũ trụ là gì?

Chân lý đến từ sự quan sát tự nhiên(20). Người Nhật luôn cố gắng để làm chủ được thiên nhiên ở bất kì nơi đâu, nhiều nhất có thể được trong phạm vi của công nghệ cho phép. Nhưng về thời tiết thì có một chút ngoài khả năng – độ ẩm và nóng vào mùa hè, lạnh và khô vào mùa đông, lượng mưa trung bình của ba ngày trong suốt năm, trừ mùa mưa đầu hè khi mà mọi thứ đều chìm trong một màn sương ẩm từ 6-8 tuần. Và thứ nữa đó là động đất, núi lửa, bão lũ, hỏa hoạn và sóng thần đến và đi và không hề báo trước. Người Nhật không hoàn toàn đặc biệt tin  vào tự nhiên nhưng họ học được nhiều bài học từ đó. Ba bài học lớn nhất mà họ rút ra từ lịch sử nghìn năm chống chọi và sống chung với thiên nhiên (có ảnh hưởng của Đạo Lão) đưa vào thành thứ minh triết của Wabi Sabi.

  1. Mọi thứ đều là vô thường. Mọi thứ của vũ trụ rồi sẽ trở thành hư vô, không loại trừ bất kỳ cái gì, là điều không thể tránh. Thậm chí những vật liệu vô cùng rắn chắc, khó phản ứng cũng là một ảo tưởng của sự vĩnh cửu. Chúng ta cứ giả như không thấy , tâm trí dùng mọi mưu mẹo để quên đi nhưng đều không tránh được sự thực là mọi thứ đều tan vào hư vô. Cả hành tinh và những vì sao, thậm chí cả những thứ vô hình như tiếng tăm, truyền thống gia đình, ký ức lịch sử, thuyết khoa học, mệnh đề toán học, kiệt tác văn học nghệ thuật (bao gồm cả dạng điện tử), tất cả đều sẽ tan biến vào lãng quên và hư vô.
  2. Tất cả đều bất  toàn. Không gì tồn tại mà không có khiếm khuyết. Khi ta nhìn thật gần vào mọi thứ, ta sẽ thấy rằng mọi thứ không thực sự hoàn hảo. Cạnh sắc của lưỡi dao khi phóng đại lên thì vẫn có những vết lõm, gồ ghề. Mọi người thợ thủ công đều biết giới hạn của sự hoàn hảo : chính là sự thách thức của cái bất toàn. Và khi mọi thứ bắt đầu sụp đổ và quay lại trạng thái sơ khởi, chúng thậm chí  còn trở nên kém hoàn hảo và bất thường hơn.
  3. Tất cả đều chưa hoàn thành. Tất cả, bao gồm chính vũ trụ đều đang trong một quá trình sinh diệt viên miễn. thường thì chí ta hay tùy tiện chỉ ra một điểm kết thúc hay chấm dứt, nhưng khi nào thì số phận của một vật tới hồi kết? Cây cối sẽ kết thúc khi ra hoa? Khi kết hạt? Khi hạt nảy mầm? Hay khi mọi thứ trở lại với đất? Khái niệm về sự hoàn tất không có chỗ đứng trong Wabi-Sabi.

“Sự vĩ đại” tồn tại trong những điều nhỏ bé, ta ít để ý tới. Wabi Sabi chính xác như một đại diện cho tư tưởng đi ngược với phương Tây về cái đẹp của họ như một cái gì đó tựa như những đền đài công trình to lớn, kỳ vĩ, trường tồn. Wabi Sabi không được tìm thấy trong tự nhiên trong thời kì nở rộ hay còn xanh tốt mà là lúc còn chưa trưởng thành hay đã tàn lụi. Wabi Sabi  không là vẻ lộng lẫy của hoa trái, không là vẻ hùng vĩ của cây cối, không là vẻ ngoạn mục đẹp đẽ của phong cảnh. Wabi Sabi là những thứ khiêm nhường và còn tiềm tàng, những thứ còn ngập ngừng hoặc phù du, những thứ phảng phất mong manh, chóng tàn phai. Nó không thể thấy được với những nhãn quang tầm thường.

Như một liều thuốc “vi lượng đồng căn”, Wabi Sabi được chia làm nhiều phần nhỏ. Khi liều lượng càng giảm bớt, kết quả càng khả quan. Những thứ càng gần với sự phù du hư ảo, chúng càng tinh tế và gợi nhiều liên tưởng. Nghĩa là, để cảm nhận được giá trị Wabi Sabi, ta phải sống chậm lại, kiên nhẫn, phải nhìn mọi thứ thật gần(21).

Vẻ đẹp có thể được khai phá từ những thứ tưởng chừng xấu xí. Wabi Sabi  không rành mạch trong việc tách rời cái đẹp khỏi cái không đẹp hoặc xấu. Vẻ đẹp Wabi Sabi , trong khía cạnh nào đó, là điều kiện cho ta đi tới tận cùng với cái mà ta vẫn cho là xấu xí. Wabi Sabi  đưa ra khái niệm vẻ đẹp là khả năng nảy sinh bất chợt giữa ta và một khách thể. Vẻ đẹp có thể phát sinh một cách rất tự nhiên ở bất cứ thời điểm nào mà hoàn cảnh, ngữ cảnh thuận lợi hay một quan điểm thích hợp mang lại. Vẻ đẹp theo cách đó là một trạng thái thay đổi của nhận thức, một khoảnh khắc phi thường của thơ ca và sự duyên dáng.

Nơi những thương gia giàu có, vị Samurai hay quý tộc thực hành nghi lễ trà đạo là một kiểu túp lều nông dân xa xưa, thứ làm nguyên mẫu cho thiết kế của trà thất kiểu Wabi Sabi, là một không gian bình dị và tồi tàn. Nhưng, trong một bối cảnh thích hợp, với sự dẫn dụ của cảm quan, nó lại mang tới một vẻ đẹp lệ biệt. Tương tự vậy, những đồ pha trà đời đầu thường khá thô mộc, trông khá xoàng xĩnh và xỉn màu. Với những người đã quen với tiêu chuẩn vẻ đẹp phải tinh xảo, tráng lệ và hoàn hảo thì sẽ cho rằng nó thật sự xấu xí. Hầu như những người đi đầu của Wabi Sabi  cố tình tìm kiếm những thứ kiểu mẫu mộc mạc, không đẹp theo tiêu chuẩn chung nhưng không quá lố bịch – và tạo một sự thay đổi vị thế ở nơi mà mà chúng có thể chuyển sang vị trí đối nghịch.

Wabi Sabi – trạng thái của tâm thức

Ta cảm nhận thế nào về những thứ ta biết?

Chấp nhận thực tại. Wabi Sabi là một quan niệm thẩm mỹ trân trọng những thứ phù du của cuộc sống. Cây cối xanh tốt vào mùa hạ lại trở nên khô héo dưới trời đông. Tất cả những gì còn lại của lâu đài thành quách nguy nga xưa kia là nền móng đổ vỡ bao phủ che lấp bởi lau sậy và rêu mốc. Hình ảnh Wabi Sabi bắt ta phải suy nghĩ về cái chết của chính mình, gợi lên một nỗi buồn hiện sinh nhẹ nhàng. Chúng khuấy lên một niềm an ủi pha lẫn chua xót, bởi ta biết mọi thứ rồi sẽ có chung một số phận.

Trạng thái Wabi Sabi  tâm thức thường được chuyển tải qua thơ ca, bởi chính thơ ca lại cung cấp phương tiện cho việc diễn đạt những cảm xúc, nhưng hình ảnh có dư ba mạnh mẽ có lẽ còn lớn hơn nhiều cái khung ngôn từ chứa đựng chúng (điều này gợi liên tưởng tới một vũ trụ bao la hơn cái ta thấy). Rikyu thường mượn bài thơ của Fujiwara no Teika (1162-1241)  để miêu tả cảm xúc Wabi Sabi.

Quanh ta chẳng hoa nở

Lá thích cũng thôi reo

Túp lều ven sông lẻ

Trên bến bờ chạng vạng

Của một đêm thu này.(22)

Chắc hẳn những câu thơ đã gợi lên liên tưởng về một cái đẹp buồn bã của Wabi Sabi. Tiếng quạ kêu thê lương, tiếng ốc nghe buồn bã. Tiếng vọng lại của còi xe cấp cứu qua hẻm núi của một thành phố lớn.

Trân trọng trật tự vũ trụ. Wabi-Sabi gợi lên một vùng đất huyền ảo với tất cả sự  sống động cơ học của mọi thứ hiện hữu, vượt ra ngoài nhận thức thông thường của chúng ta. Sức mạnh nguyên thủy này trong Wabi Sabi làm liên tưởng tới hình tròn – biểu tượng vũ trụ trong Ấn Độ giáo hay trong nhà thờ Trung cổ Châu Âu – được xây dựng như một cách thể hiện lòng tôn trọng với trật tự vũ trụ. Những chất liệu Wabi Sabi gợi nên một cảm giác siêu việt. Cái cách mà ánh sáng đi qua giấy nến trên ô cửa làm chúng trở nên dịu dàng và mờ ảo. Những đường nét trong vết nứt của đất sét khi chúng khô lại. Màu sắc và bề mặt biết đổi của kim loại khi chúng bị mờ xỉn hay han gỉ. Tất cả đều là quy luật của tự nhiên, của một thứ cấu trúc nằm sâu thẳm trong vạn vật.

Wabi Sabi, một quy tắc đạo đức

Nếu biết về cái mà ta thấy, ta nên hành động thế nào?

Hãy loại bỏ những gì không cần thiết. Wabi Sabi có nghĩa là bước đi một cách nhẹ nhàng trên hành tinh này và trân trọng mọi thứ quanh ta, ngay cả những thứ nhỏ bé bình dị nhất mà ta bắt gặp. “Giàu có về vật chất không phải là cái giàu có thực, sự phong phú về tinh thần mới đáng giá” là câu châm ngôn của Wabi Sabi. Nói cách khác, Wabi Sabi khuyên ta hãy ngừng lại những mối bận tâm về sự thành công, giàu có, quyền lực địa vị ..để sống một cuộc đời nhẹ nhõm.

Rõ ràng, để sống một cuộc sống đơn giản theo lý tưởng Wabi Sabi  đòi hỏi phải có nỗ lực, ý chí và có cả những quyết định khó khăn. Wabi Sabi cho rằng để biết lúc nào nên có chọn lựa và lúc nào thì không và để mọi thứ như tự nó là rất quan trọng. Thậm chí khi sống một cuộc đời thanh đạm giản dị nhất có thể thì nó vẫn bao gồm vật chất. Wabi Sabi chính xác là sự cân bằng giữa lòng ham muốn, niềm vui khi sở hữu và và cả niềm vui của sự từ bỏ.

Tập trung vào bản chất bên trong và bỏ qua giá trị vật chất. Phép tắc ứng xử trong trà thất chính là sự giải thích rõ ràng nhất cho giá trị này. Trước hết là biểu hiện của lòng khiêm tốn, mọi người đều phải cúi xuống gần như là chui qua lối cửa vào đã được cố ý làm cho nhỏ và thấp. Một khi đã vào trong, tất cả đều bình đẳng. Suy nghĩ phân biệt – “cái này tốt , cái kia xấu” không được chấp nhận. Sinh viên nghèo hay thương gia giàu có hay giáo chủ quyền lực – những người có vị rất trí khác nhau ngoài xã hội – đều bình đẳng trong này. Tương tự như vậy, với người quan sát tinh tế, những đồ vật trong trà thất đều có một phẩm chất như nhau. Điều này nhằm hướng tới một sự sáng rõ, rằng nguồn gốc cũng như tên tuổi người làm ra đồ vật đó không phải là thứ quan trọng trong Wabi Sabi. Những gì liên quan tới giá trị cũng được đẩy sang một bên. Bùn đất, giấy, tre, thực tế về bản chất  lại có giá trị Wabi Sabi hơn là vàng, bạc hay kim cương. Trong Wabi Sabi, không có khái niệm “đáng giá”, bởi lẽ đó mà hàm ý cả sự “vô giá”. Một đồ vật chỉ có giá trị Wabi Sabi  trong khoảnh khắc mà nó được trân trọng như vậy(23). Do đó, trong trà thất, mọi thứ hiện diện khi chúng mang trong mình giá trị Wabi Sabi. Ra ngoài trà thất, chúng lại quay lại với bản chất thường ngày, và dư âm Wabi Sabi cũng phai nhạt dần.

Chất liệu Wabi Sabi

Những motif, chất liệu hay sự kết hợp nào diễn đạt được cái hiểu của ta về vũ trụ, hay tạo nên cách hiểu đó ở những thứ khác??

Gợi ý từ thiên nhiên. Những thứ Wabi Sabi là hình ảnh của khoảnh khắc mà thời gian ngưng đọng lại. Chúng được làm từ những chất liệu rõ ràng là không tối ưu cho việc sử dụng và không bền bỉ với thời tiết môi trường. Chúng ghi lại những nắng gió, nóng lạnh bởi thứ ngôn ngữ là sự không màu mè, han gỉ, mờ xỉn, cong vênh, ố vàng và bong tróc hay bất kì một trạng thái cũ mòn nào đều là một chứng cứ của lịch sử sử dụng và lãng quên. Mặc dù những thứ Wabi Sabi đang ở thời điểm tinh thần hóa (hoặc vật chất hóa) – có nghĩa là chúng rất mong manh và yếu ớt thì chúng vẫn giữ một ưu thế không hề giảm sút trên cán cân và sức mạnh của cá tính khác biệt.

Bất thường. những thứ Wabi Sabi hoàn toàn xa lạ với những thẩm lối mỹ thông thường. Khi chúng ta đã biết trước phương thức thiết kế “đúng đắn”, Wabi Sabi lại trầm tư đưa ra một phương thức “sai lệch”(24). Kết quả là những sản phẩm ra đời một cách méo mó, kỳ lạ, khó hình dung hoặc những gì mà người ta cho là xấu xí. Những thứ Wabi Sabi được trưng bày như một kết quả của một sự cố, như một chiếc bát đã vỡ và được gắn keo lại. Hoặc chúng phơi bày kết quả của một trục trặc tình cờ, như một tấm vải dệt bất bình thường của một chương trình máy hay một cách thức  cố ý làm sai.

Mối liên hệ mật thiết. Những thứ Wabi Sabi thường nhỏ nhắn và cô đọng, tĩnh lặng và hướng nội. Chúng đưa ra tín hiệu muốn đến gần hơn, chạm vào và tạo ra những liên hệ. Chúng thôi thúc ý muốn  rút gọn khoảng cách về mặt tâm linh giữa các vật và với cả con người.

Không gian Wabi Sabi thường nhỏ, biệt lập và riêng tư nhằm tăng sức mạnh tinh thần và chiều sâu suy tưởng. Trà thất Wabi Sabi, lấy làm ví dụ, diện tích sàn thường nhỏ hơn 100 feet vuông. Chúng thường có trần thấp, cửa sổ nhỏ, lối vào vô cùng bé và ánh sáng rất dịu. Chúng yên bình và tĩnh lặng và được bao bọc như một chiếc bào thai. Đó là một thế giới khác, một chốn hư vô mà cũng có thể là bất cứ nơi đâu. Trong trà thất-không gian Wabi Sabi, mọi thứ dường như được phóng lớn tầm quan trọng trong một sự đảo ngược tỉ lệ với kích thước thực sự của chúng.(25)

Khiêm tốn. Những thứ Wabi Sabi không màu mè và có vẻ ngoài quen thuộc. chúng không om sòm: “tôi quan trọng lắm” hoặc đòi hỏi là trung tâm. Chúng thường khá dè dặt và khiêm nhường nhưng không hề mất đi thứ quyền lực lặng lẽ. Chúng nhẹ nhàng tồn tại cùng phần còn lại của thế giới(26).

Những thứ Wabi Sabi có được giá trị của chúng chỉ trong mối liên hệ và quá trình sử dụng. Chúng không phải là những thứ khóa trái trong viện bảo tàng cần một sự đảm bảo hay công nhận của thứ văn hóa thị trường. Không cần bằng chứng về nguồn gốc cũng như không đời nào phụ thuộc vào nền tảng danh tính của người tạo nên chúng hay cái gì đó cá nhân. Thực tế, nó tuyệt nhất khi người làm ra không quá đặc biệt, vô danh hoặc ẩn danh.

Đất. Những thứ Wabi Sabi có thể nhận ra trong sự tồi tàn, không tinh xảo. Chúng thường được chế tác từ những vật liệu không xa rời nơi ban đầu chứa chúng. Đất thường có nhiều họa tiết sống động và mang lại cảm giác thô nhám khi chạm vào. Sự vi tế của chúng khó có thể phân biệt được.

Âm u. Những thứ Wabi Sabi thường mơ hồ, không rõ nét và giá trị mờ phai – như là những thứ chuẩn bị tan vào hư vô. Một khi – những cạnh sắc trở nên mềm mại, mờ xám. Một khi, những vật liệu tưởng chừng vô cùng rắn chắc, xuất hiện như những bọt biển. Một khi – những màu sắc bão hòa phai nhạt thành những sắc màu sương khói của buổi bình minh hay chạng vạng. Wabi Sabi đến trong một thứ quang phổ xám bất tận: xám nâu xanh, xám bạc đỏ, xanh chàm vàng..và nâu: nâu đậm pha xanh, màu xanh trầm..và đen: đen ánh đỏ, ánh xanh, ánh nâu…

Ít thường xuyên hơn Wabi Sabi có thể xuất hiện sáng sủa, nhưng thường là những màu nhạt và nhẹ kết hợp với một chút bất thường hư vô. Như thứ carton chưa bị tẩy trắng, màu của sợi gai, của giấy tái chế. Màu phấn bạc nơi búp non, màu nâu xanh của chồi đang nhú.

Đơn giản. Sự đơn giản là cốt lõi của Wabi Sabi. Hư vô, tất nhiên là một sự giản đơn sau cùng. Nhưng trước và sau hư vô, sự đơn giản thì không giản đơn. Để diễn giải điều này, Rikyu đã đưa nó vào trong trà , đơn giản là chính nó: nước, củi, động tác chuẩn bị, phục vụ người khác. Hơn thế nữa, Rikyu gợi ý nên rời xa kiểu đầu óc trạo động.

Nhưng làm sao ta có thể luyện tập sự kiên nhẫn mà cái giản dị đòi hỏi mà không phải vượt qua trong sự khổ hạnh một cách phô trương. Làm sao ta có thể tận tụy trong từng thứ nhỏ nhặt mà không thành kiểu cách quá đáng? Làm sao để đạt tới sự giản dị mà không vướng vào sự buồn tẻ?

Sự đơn giản Wabi Sabi có lẽ là một mô tả tốt nhất cho trạng thái quay về tỉnh thức, khiêm tốn, trí tuệ chân thật. Chiến lược chính của trí thông minh này là tiết kiệm vật chất. Bớt đi để đến gần với bản chất cốt lõi nhưng không làm mất đi sự nên thơ. Giữ mọi thứ sạch sẽ, không vướng víu nhưng không làm cho khô cứng (Wabi Sabi thường ấm và không bao giờ lạnh lẽo). Thường thì nó gợi ra một bảng vật liệu nghèo nàn. Nó cũng có nghĩa là đưa những nét đặc trưng trở về tối giản. nhưng không có nghĩa là loại bỏ chuỗi đan xen vô hình đã làm che mờ cái thấy vạn vật đồng nhất thể. Nó cũng không có nghĩa là bằng cách nào đó làm giảm bớt sự lôi cuốn và thú vị, đặc tính buộc ta nhìn vào là cái gì đó là ở bên trên, trên nữa và trên nữa.

Chú giải:

  • (1) Bên cạnh ý tưởng  không gian  lấy tre làm chủ đạo bên ngoài  bởi Teshigahara, cấu trúc còn lại thiết kế bởi Tadao Ando, Arata Isoyaki và Kyonori Kikutake. Công trình được gọi là “The Great Numazu event”, là một liên tưởng trực tiếp tới “Đại hội trà tại đền Kitano” tổ chức tháng 11 năm 1587, có quy mô lớn nhất tính tới thời điểm đó trong lịch sử. Vị thống soái Toyotomi Hideyoshi, sau khi chiếm được vùng phía nam đảo Kyushu, ban hành một sắc lệnh tới những người đang thực hành trà đạo, bất kể giàu nghèo, phải tham dự vào ngày hội của ông ta được tổ chức tại đền Kitano tại Tokyo. Khoảng 800 lều bằng gỗ thông đã được dựng lên kín sân khu đền thờ.
  • (2) Xuyên suốt cuốn sách này, khái niệm”thẩm mỹ” ý nói tới những giá trị  và quy tắc chủ yếu – đường lối để có những nhận thức và quyết định đúng đắn về thẩm mỹ.  Tiêu chuẩn về một giá trị “thẩm mỹ” là thứ nhất nó phải khác biệt (sự khác biệt nổi lên với những thứ hỗn loạn nhập nhằng, thường thường chứ không phải sự khác nhau đơn thuần). Hai là phải rõ ràng sáng sủa (thẩm mỹ nói tới phải định nghĩa được – rõ ràng – thậm chí cả những giá trị thẩm mỹ về những thứ mơ hồ. Ba là phải không gián đoạn.
  • (3) Trước đây, Wabi Sabi là một hệ thống cấu trúc không chính thống. Liệu sự chạm tới của cuốn sách này có là đúng đắn  không? Sen no Rikyu, vị thầy tối cao Wabi-Sabi xét theo học thuật, đã như một bằng chứng để có thể phát biểu rằng có thể nắm được tinh yếu của quy tắc hay vấn đề nếu thấu triệt nó một cách hoàn toàn. Sau đó nếu một ai khao khát, một dạng phát sinh mới có thể hiệu chỉnh để đáp ứng những nhu cầu của hiện tại. Ở một nghĩa nào đó, tác giả của cuốn sách này đã làm như vậy với Wabi-Sabi.
  • (4) Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ và đã lan truyền sang Trung Hoa ở thế kỷ 6 sau Công nguyên, nơi mà nó đã được phát triển rộng khắp hơn. Đạo Phật truyền bá tới Nhật bản vào khoảng thế kỷ 12, nhấn mạnh vào cái “nhận biết chân thật vượt ra ngoài mọi kiến giải”. Cốt tủy của cả Wabi-Sabi và Thiền là vượt lên cái nhìn và suy nghĩ thông thường về vạn vật. Hư vô chiếm vị trí trung tâm của lý thuyết trừu tượng Wabi-Sabi cũng như trong Thiền tông.
  • (5) Mọi công việc làm ăn của Iemoto ở Nhật được sắp xếp trong một cấu trúc kim tự tháp, đứng đầu là Iemoto. Một phần học phí của học viên được trả trực tiếp cho gia sư đã động chạm tới quyền lợi Iemoto và vì vậy, những người đứng đầu kế nhiệm này (thường là con trưởng), đã cắt lấy phần đó. Ngày nay, rất nhiều gia tộc Iemoto vô cùng giàu có đã mở rộng phạm vi công việc kinh doanh tới những lĩnh vực khá xa rời thứ văn hóa mẫu mực.
  • (6) Sự phân cực “Đông” –  “Tây” chỉ là một cách gọi tắt nhằm thuận tiện cho việc diễn đạt. Cũng như việc sử dụng tên của những người, sự kiện nổi tiếng như là biểu tượng cho thứ văn hóa được công nhận trên một thế hệ. Đặc biệt cẩn thận là thứ nên học trong đức tính tiêu biểu của người Nhật cũng như phương Đông. Nhất là sau thế chiến thứ 2, rất nhiều sáng kiến và giá trị của phương Tây đã phát triển thành sáng kiến và giá trị của Nhật Bản, kết quả là thẩm mỹ Nhật Bản đã từng bước thay thế cho cái đến từ châu Mỹ hay châu Âu.
  • (7) Có một vài sự tương thích khá thú vị giữa chủ nghĩa hiện đại và Wabi-Sabi. Trong xã hội Nhật bản hiện đại, lấy ví dụ, cái mà ta thấy mang phong cách Wabi-Sabi trong trà thất hay nhà hàng thì lại nằm trong không gian hiện đại của các tòa cao ốc toàn kính và thép. Thậm chí rất lạ là  Kobori Enshu(1570-1647), một trà sư, lại nổi danh với thiết kế cung điện biệt lập Katsura ở Kyoto. Với mặt bằng mở và trang trí không màu mè kết hợp đã có ảnh hưởng lớn lên tư duy của rất nhiều kiến trúc sư thời kỳ đầu hiện đại ở phương Tây. Dù Enshu thực tế có là một nhà thiết kế hay không, công trình Katsura đã có ảnh hưởng ngấm ngầm, gián tiếp đưa Wabi-Sabi vào thành một trong những tinh thần chính của chủ nghĩa hiện đại.
  • (8) Theo lý tưởng của một trà thất thì phải là một tổ hợp của những nghi lễ mà trong đó mọi người có mặt đều vào cuộc. Như một chỉ dẫn cơ bản và duy nhất của nhà soạn nhạc John Cage đã nêu rõ ra phương pháp và nghi thức, rằng mỗi một nghi lễ đều phải tạo ra một không gian nghệ thuật ghi dấu ấn như một tác phẩm. Bởi hầu hết mọi người tham gia đều được coi như những chuyên gia, hiểu biết của họ được hình thành dần trong chính cấu trúc của nghi thức (mỗi thiết kế tinh tế đều gợi nhắc tới những nghi thức, thể văn thơ, cuộc trò chuyện từ xa xưa..) , Vì vậy mà những nghi thức sau này thậm chí còn sâu sắc, nhiều lớp lang ý nghĩa phức tạp hơn.
  • (9) Vào thế kỷ 16, trà thất tựa như những sân golf hiện nay cho giới kinh doanh ở Nhật. Đó là nơi những thương gia giầu có gây dựng những mối quan hệ làm ăn mới, đó cũng là nơi cho những binh lính xả hơi sau khi kết thúc trận đánh và ăn mừng chiến thắng. (Tất cả binh lính đều được học về trà đạo trong quân đội)
  • (10)Có rất nhiều giai thoại, hầu hết chúng đều được thêu dệt hoặc tô điểm thêm cho mục đích truyền bá tư tưởng trong lịch sử trà đạo. Một câu chuyện kiểu như vậy là về bài “nhập môn” của Rikyu trước khi ông được chấp nhận làm đệ tử của vị trà sư Takeno Joo. Rikyu được sai quét dọn lá rụng trong vườn. Đầu tiên ông quét cho đến khi không còn sót một chút rác nào. Sau đó, trong một cử chỉ đầy hàm ý Wabi Sabi, ông tới lắc một thân cây lớn cho vài chiếc lá rơi xuống. Wabi Sabi, như một minh chứng ở đây, đó là sự sạch sẽ nhưng không khô khan và khắc nghiệt. Cũng gần giống như vậy trong một giai thoại khác kể khi Rikyu đã trở thành trà sư và người muốn làm học trò là con trai ông. Trong giai thoại này thì Rikyu đã rung cho lá rơi như một lời quở trách tới người con trai đã dọn khu vườn quá sạch sẽ đến độ không còn một chút lá nào.
  • (11)Đầu tiên Wabi Sabi là những chất liệu mà Rikyu và những người bạn đồng liêu tìm thấy trong nhà ở của người nông dân trong những chuyến đi. Rốt cuộc, Rikyu trở thành một “giám đốc sáng tạo” và kiêm luôn thợ thủ công để chế tác những thứ mang thứ cảm giác mới mẻ này.
  • (12)Phong cách trà thất như một túp lều nhỏ bé với việc sử dụng những đồ pha trà thô mộc đi ngược lại trào lưu kiểu cách của xã hội thời bấy giờ thỉnh thoảng được ví với cái cách Marie Antoinete trưng bày và sắp đặt những cô gái chăn cừu và vắt sữa, phục sức bằng váy vải sợi bông và mũ rơm, trong những túp lều của người nông dân được dựng lên trong một góc của khu vườn cung điện Versailles. Hoàn toàn có thể nói rằng, những thứ mà Rikyu làm hoàn toàn nghiêm túc hơn nhiều. Dụng ý thẩm mỹ sâu sắc đi ngược lại với những thú vui mang tính giả trí mới lạ đơn thuần. Những người theo sau Rikyu sau này, đã từng (và đang) rất giàu có, cố tình sống theo lối nghèo nàn  kiểu Wabi Sabi, lại dường như gần với phong cách của Marie Antoinete hơn. Vài túp lều “giản dị” của họ được làm từ những vật liệu đắt tiền nhất và chế tác  khéo léo nhất, đôi khi còn có giá hơn cả căn biệt thự lớn. Những đồ pha trà trông có vẻ khiêm nhường của họ thực ra lại cực kỳ đắt tiền.
  • (13)Thật khó để hiểu Rikyu thực sự định nghĩa thế nào về Wabi Sabi khi mà hầu như tất cả chúng ta đều chỉ biết về lý tưởng của ông qua hai nguồn tham khảo. Tài liệu quan trọng thứ nhất là cuốn Nanbo Roku, được cho là viết sau khi Rikyu mất bởi Nanbo – một thiền sư , học trò và cũng là bạn của Rikyu hồi ở quê nhà Sakai (gần Osaka). Nhưng vài học giả cho rằng đó chỉ là thứ giả mạo mưu mẹo, phiên bản hợp pháp duy nhất giúp ích cho việc “khám phá” này viết bởi Tachibana Jitsujan, một võ sĩ Samurai và là người thực hành trà đạo, sau kỷ niệm 100 năm ngày mất của Rikyu. Một tài liệu khác, Yamanoue Sojiki, một tập ghi chép lại những chủ đề và đối tượng được sử dụng các buổi trà đạo mà người học trò lâu năm của ông là Yamanoue Sogi. Cả hai cuốn sách đều được sử dụng dể thẩm định vị trí của những tư tưởng hay kiểu cách có liên quan tới trà đạo và Wabi Sabi.
  • (14)Một mặt khác của sự thực hành này là lòng tin, từ Thiền, là thân thể, chứ không phải ngôn ngữ, là nơi cất giấu của hiểu biết và kỹ thuật. Do đó trà đạo tập trung vào những bài thực hành “vô trí”.
  • (15)Giao tiếp giữa con người, dường như có vẻ là phần thứ yếu theo lý tưởng của Rikyu trong trà đạo Wabi Sabi. Cuốn Nanbo Roku đã khuyên những người thực hành không được đồng bộ cảm giác của mình với những vị khách trừ phi nó xảy ra một cách tự nhiên. Nói cách khác: đừng để những liên hệ con người cản trở bạn trên con đường đạt tới và duy trì “cảnh giới” Wabi Sabi. Vật dụng cũng như con người được đối xử như nhau trong Wabi Sabi. Wabi Sabi không phải là thứ triết học vị nhân sinh, cũng không phải là cái gì đó thiêng liêng thần thánh về cuộc sống, về lòng nhân đạo của con người, hay về cái thiện – cái ác.
  • (16)Sabie (sa = trà, bi = vẻ đẹp, e = gặp gỡ, có nghĩa là “hội ngộ vẻ đẹp của trà”) là tên của một tổ chức của những người yêu văn hóa trà cấp tiến. Đứng đầu là Masakazu Izumi, con thứ (vì vậy không phải là Iemoto trong tương lai) của một gia đình có trường dạy về trà đạo ở Nhật. Đường lối nghệ thuật của hội này ảnh hưởng cơ bản từ ngày đầu bởi Ikko Tanaka, một trong những chuyên gia đầu ngành của thiết kế đồ họa và Junji Ito, một nhà phê bình nghệ thuật tiếng tăm và là điều phối viên nghệ thuật.
  • (17)Kết quả hữu hình của Sabie tới nay là những trà thất và trà cụ, nguyên được trưng bầy ở những cửa hàng bách hóa ở Nhật. Nhưng có vài sự nghi ngờ về tính chất của Wabi Sabi. Hầu hết chúng có vẻ như quay lại thời điểm trước Rikyu, đó là trước khi có một sự hợp nhất về định nghĩa của khái niệm Wabi Sabi. Chúng dường như gần hơn với những thứ tiêu khiển mua vui tinh xảo đẹp đẽ.
  • (18)Cho đến giờ, Wabi Sabi chưa bao giờ được xuất hiện một cách chính thống và ở một ngôi thứ cao. Qua việc áp đặt cấu trúc trí tuệ khôn ngoan này, tác giả cảm thấy Wabi Sabi trở nên dễ thấu hiểu hơn.
  • (19)Một phép so sánh trực quan cho sự tồn tại và biến mất, bằng chứng cho sự phù du là hoa anh đào, một trong những hình ảnh biểu tượng mạnh mẽ nhất của văn hóa Nhật Bản. Mùa xuân hoa anh đào chỉ nở rộ trong vòng một tuần. Nhưng chỉ cần một cơn mưa hay gió bất chợt có thể làm những cánh hoa phớt hồng mỏng manh kia rơi xuống bất kì lúc nào. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, trong cả đất nước, từng nhóm lớn nhỏ khác nhau trải chiếu hoặc những tấm chăn mềm ngồi dưới gốc cây. Ngay lập tức đã có một không gian – không giống với cấu trúc thường ngày – một lễ hội ngắm hoa diễn ra. Sự vĩnh cửu và xót xa của hình ảnh hoa anh đào gợi trong ta một suy nghĩ về tính phù du mong manh của nó. Một khoảnh khắc trước khi từ giã, một khoảnh khắc trước khi mọi thứ tàn tạ…
  • (20)Trong ngữ cảnh nói tới “tự nhiên” Wabi Sabi có một vài ý nghĩa. Nó gợi tới cái giới hạn thể lý không thể chạm tới được của con người: mọi thứ đều trong trạng thái nguyên thủy và trong suốt của nó. Trong ý này, tự nhiên là những thứ như đất, cỏ cây, động vật, sông núi và các lực tự nhiên- có lúc hiền lành, có lúc dữ dội – mưa, gió, nước, lửa,v,v..nhưng tự nhiên trong nghĩa Wabi Sabi cũng chứa đựng cả những ý nghĩ của con người, những suy nghĩ và tạo tác không mang tính tự nhiên. Trong ý nghĩa này Wabi Sabi ngụ ý nói tất cả cùng tồn tại, bao gồm cả những quy luật tồn tại mà ta không thể thấy. Và trong nghĩa này Wabi Sabi  có sự tương đồng với phương Tây, lý tưởng tất cả đều đồng nhất với Chúa trời.
  • (21)Một hình thức của trà đạo vẫn tồn tại cho tới ngày nay là tập trung nghiêm túc vào mỗi vật dụng trong nghi lễ. Nó có nghĩa là không chỉ chú ý vào chi tiết của ấm trà, chén trà, bình đun nước và những thứ tương tự như thế mà còn là những thứ như bình cắm hoa, thậm chí là than củi được dùng để đun nước. Những thứ xưa kia diễn ra tự nhiên thì giờ là sự bắt chước lặp lại cứng nhắc – có những quy tắc rõ ràng về thời điểm, cách thức sử dụng dụng cụ và khi nào thì đưa ra những câu hỏi về chúng – nhưng ít nhất điều này cũng bắt ta phải dành sự chú ý và hy vọng rằng chúng ta có thể thực sự “thấy” mọi thứ trước mắt ta.
  • (22)Dịch bởi Toshihiko Toyo Izutsu
  • (23)Những dụng cụ pha trà ban đầu được  thiết kế bởi Rikyu đã từng là những dụng cụ thủ công vô danh trong các hộ gia đình: những đồ vật hoàn toàn không có một vị thế. Nhưng vị thế, nó dường như, luôn xoay sở để đòi hỏi chính nó bất kỳ khi nào có cơ hội, và hầu hết đột nhiên tăng giá cho những thứ trước đây là xấu xí tầm thường. Một khi cái gì đó trở nên đáng giá, đắt đỏ, nó tự chấm dứt giá trị Wabi Sabi. Nó trở thành, thay vào đó là đồ vật đắt đỏ gợi nhớ tới cái đã từng là một thời khắc sống động. không thể nói rằng có quá nhiều những thứ “có vẻ”  Wabi Sabi trong bảo tàng trên khắp đất nước Nhật bản. Nhưng chúng chỉ là những cái vỏ, những thứ nhìn có vẻ Wabi Sabi nhưng không còn giá trị thực sự nữa. Trong vài năm cuối thập kỷ 60 đầu thập niên 70 có một hoạt động nghệ thuật Nhật bản gọi là  Mono-ha (học hỏi từ mọi thứ) đã có cùng chung đặc tính trân trọng mọi thứ trong khoảnh khăc của Wabi Sabi. Những nghệ sĩ Mono-ha sử dụng những chất liệu thiên nhiên như cỏ cây, đá sỏi và tạo nên một sắp đặt nghệ thuật. Một phần của chỉnh thể trong tác phẩm của họ là đặc tính không thể sưu tập được. (Không một nhà sưu tầm hay bảo tàng nào có thể sở hữu chúng). Như một nhà phê bình đã nói: “Chúng từ chối khái niệm về sự hoàn hảo và hoàn tất của một sự vật”. Những tác phẩm tạo hình của họ hoàn toàn chỉ là một sự hợp nhất tạm thời…không có căn nguyên tạo nên giá trị tiền bạc.
  • (24)Nhà sản xuất và nhân công luôn phấn đấu để gia tăng độ đồng đều và khuôn mẫu của sản phẩm. Mỹ thuật công nghiệp và kiến trúc đều dựa trên những bản vẽ hoàn chỉnh và chính xác. Nếu làm thay đổi quá trình hay cấu trúc, ta sẽ phải trả một giá rất đắt. Nhưng rất nhiều nghệ sĩ và nhà thiết kế thì chán nản với những thứ hoàn hảo. Những thứ đang trong quá trình, như một tòa nhà trong giai đoạn phác thảo bao giờ cũng hình tượng hơn chính nó khi đã hoàn thành. Những cái khác biệt và bất thường nên thơ thật khó để sản xuất hàng loạt. Một yếu tố nữa góp phần chống lại sự cái bất thường là sự tràn lan của những mẫu mã thiết kế dựa trên hình học chính xác Ơclit. Mọi sản phẩm sản xuất hàng loạt thì đều là những kiểu đường thẳng, đường tròn, đường cong hay tam giác hoàn hảo. (Những hình học cứng nhắc, không trùng hợp đã trở thành những biểu tượng thị giác của chính ngành thiết kế). “Luật” của hình và dáng tự nhiên thì phong phú hơn. Năm 1980 cuốn “Phân dạng hình học của tự nhiên” của nhà toán học Benoit B Mandelbrot đã làm sáng tỏ những dạng hình học khác có thể sử dụng trong toán học để mô tả những dạng hình và bề mặt bất bình thường như sần sùi, rối, lưa thưa hay nhăn nhúm…
  • (25)Wabi Sabi là phản đề của lý tưởng về một “vũ trụ toàn vẹn”, khái niệm về một thứ nguyên mẫu có thể đạt chức năng thẩm mỹ ở bất kì tỷ lệ nào. Từ góc độ Wabi Sabi mật độ thông tin chứa đựng bên trong mọi thứ có thể thay đổi, cũng như với con người trên từng thang độ. Chắc chắn rằng thiết kế cho rằng một cái cabin thì khác với nhà ở. Nhưng có vài kiến trúc sư xử lý với thiết kế  một tòa nhà mà không hơn gì một mẩu phóng to của đồ đạc.
  • (26)Triết lý thẩm mỹ của nhà trọ lâu đời và nổi tiếng nhất của Kyoto (quán trọ 300 tuổi Tawayara, 700$ một người một đêm bao gồm hai bữa ăn), tóm lại hai quy tắc kiên định của Wabi Sabi là (1) “Không một thứ gì hay chi tiết nào trong bất bất kì không gian nào nổi bật hơn những thứ còn lại” và(2) “Bạn không cần tôn sùng những thứ cũ kỹ để tưởng nhớ thời xưa. Nếu nó mới và hợp lý, hãy dùng chúng”

, , , ,

Leave a comment

Đàn bà từng trải

Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch

“Bữa nọ lên mạng, thấy có cô gái trẻ tự nhận mình đàn bà, rồi chửi đàn ông , rồi hút thuốc, rồi uống rượu, rồi mặc áo trễ ngực chụp hình trong bar, kêu gào bản thân đại diện cho mẫu đàn bà mạnh mẽ, từng trải, không cần đàn ông nữa. Chợt nghe thấy buồn…”

Đàn bà từng trải đâu phải vậy.

Đàn bà từng trải, họ không mặc đồ hở hang. Họ kiểm soát được thứ đưa cho đàn ông nhìn, vì biết đàn ông sẽ đến với mình vì thứ đó, rồi lúc kiếm được thứ hấp dẫn hơn cũng sẽ rời bỏ mình. Nên đàn bà từng trải thích mặc đồ kín đáo một chút, vẫn hở nhưng hở trong vòng cho phép, vẫn còn cái kín đáo để đàn ông tò mò mà lò dò theo sau. Cái kín đáo chết người!

Đàn bà từng trải, không uống rượu nhiều hay hút thuốc như nghiện. Họ thích cầm ly vang, trước khi uống đặt làn môi mọng đỏ lên miệng ly, nhẹ nhàng nhấm nháp cái đắng cay biết chắc ít hơn đời mình. Bật điếu thuốc trước khi hút sẽ dùng lưỡi kéo nó lại gần, gợi dục và kích thích, nhưng đàn ông nhìn sẽ tự khắc hiểu, không dễ chạm vào thế giới đằng sau làn khói kia đâu.

Đàn bà từng trải, ít khi khoe khoang về bản thân, ít khi muốn nói về câu chuyện của mình, bởi qua rồi, còn gì để mà nặng lòng để nói, chỉ muốn im lặng, nghe câu chuyện của người xung quanh, người đối diện. Vì hơn ai hết trong đời, đàn bà từng trải hiểu cảm giác cần có một người chỉ im lặng nghe mình nói biết bao nhiêu.

Đàn bà từng trải, không mạnh mẽ. Chỉ là bản thân như miễn nhiễm với buồn vui thế sự bên ngoài, chỉ muốn được vui buồn chuyện vụn vặt bản thân, như sáng nay làm được cái bánh ngon mời bạn cũ, như cái cây trồng trên bàn làm việc nay có cái lá héo vàng, tự hỏi đời mình có còn xanh?

Đàn bà từng trải, vui ít cười, buồn nhất định không khóc. Không thù ghét hay căm hận bất kỳ ai, sống đời không quá gắt gao ở bất kỳ thái cực nào, đặt sự cân bằng ở đầu danh sách những thứ phải có được. Biết rằng ai rồi cũng sẽ đến ngày nằm xuống, phí thời gian làm chi cho giận hờn hoài phí.

Đàn bà từng trải, thích đọc sách, xem phim. Tự tìm niềm vui ở một cuộc sống mình chưa từng nếm trải. Thỉnh thoảng tiếc cái thanh xuân vùn vụt hồi nào, nhưng hài lòng vì thời gian ban ơn sự tịnh lặng trong cõi tâm hồn. Để rồi chợt khóc, chợt buồn cho một số phận trong sách, để rồi trân trọng những người hiện sinh trong đời thực.

Đàn bà từng trải, chọn im lặng nhìn đời, không ồn ào, không hằn hộc, chỉ là những niềm riêng rất nhỏ giấu vào một góc suy tư…

Đàn bà từng trải là vậy đó!

Leave a comment

Em giấu gì trong tay

EM GIẤU GÌ TRONG TAY
(Nguyễn Thế Hoàng Linh)
—–

Em nắm hai bàn tay
Và bảo tôi chọn một
Em giấu gì trong ấy
Ngọt ngào hay đắng cay

Lắc đầu em chẳng nói
Vẻ mặt em lạnh lùng
Sao tôi đang dằn vặt
Mà em vẫn ung dung

Em giấu gì trong ấy
Ở lại hay chia tay
Em giấu gì, trời hỡi
Hờ hững hay đắm say

Em giấu gì trong ấy
Tôi bỗng giận em nhiều
Hay bỗng dưng em muốn
Đùa bỡn với tình yêu

Tôi bảo tôi không chọn
Chọn đi, em dỗ dành
Tôi bảo tôi không chọn
Mặt em bỗng tái xanh

Em bảo tôi phải chọn
Nếu không hãy giã từ
Thì đằng nào chả thế
Tôi quay gót, ngần ngừ

Nhưng em không gọi lại
Tôi bỗng giận điên cuồng
Hóa ra bao hò hẹn
Chỉ là trò chơi suông

Nhưng rồi tôi áy náy
Nàng đã có lỗi gì
Nàng giấu gì trong ấy
Gì đây hỡi cỏ cây

Nàng chờ tôi xin lỗi
Tôi cũng thế, đợi nàng
Thế rồi thu chào hạ
Nàng lỡ bước sang ngang

Cũng kể từ ngày ấy
Tôi đã sớm để tang
Xòe, nắm, nắm, xòe, nắm
Trong những ngày lang thang

Một hôm tôi bỗng thấy
Thơ thẩn ở bên đường
Cô bé và cậu bé
Trong mưa phùn ẩm ương

Cũng chìa đôi tay nắm
Cũng tỏ vẻ lạnh lùng
Những mắt không giấu nổi
Một tia sáng mông lung

Rồi cậu bé chọn một
Cô bé giở bàn tay
Một bàn tay trắng xóa
Mũi tôi bắt đầu cay

Cô bé cười khúc khích
Bàn tay kia mở xòe
Tôi không tin vào mắt
Một giọt kẹo tròn xoe

……

Nhưng rồi tôi bỗng hiểu
Tôi đã chẳng yêu nàng
Tất cả, ừ, tất cả
Chỉ là thói đa mang

Rồi tôi bỏ nỗi nhớ
Tôi vun lại xanh ngày
Thế mà tôi vẫn hỏi
Em giấu gì trong tay?

Leave a comment

While Your Lips Are Still Red

Cũng đã lâu lắm rồi kể từ lần cuối cùng tôi viết một entry đúng nghĩa cho cái blog này. Người ta thường nói “khi muốn một thứ gì đó, hãy tìm phương tiện; và khi không muốn một thứ gì đó, hãy tìm một lý do” và tôi cũng vậy. Tôi thường lấy lý do không có thời gian cho những lần nhắc nhở đầy ý nhị của blog dành cho tôi về một entry mỗi khi tôi đăng nhập để check số lượt view-per-day. Lý do ấy cũng chỉ là một lý do để cho có lý do, chứ thật ra tôi thiếu cảm xúc để viết. Đã bao lần tôi định bụng là phải viết về một điều gì đó, nhưng rồi lại tự hẹn với mình ngày mai, ngày kia, …. và rồi cuối cùng những cảm xúc khi ấy đã tan biến hoàn toàn vào một ngày đẹp trời khi tôi hứng thú và “cầm bút” lên. Kể ra, viết lách dù ít dù nhiều cũng cần có cảm xúc giống như một người nghệ sĩ vậy, và bấy lâu nay tôi thiếu điều đó.

Lâu nay tôi lang thang, góp nhặt một số bài post thú vị trên internet, vay mượn những xúc cảm của người khác để tha về lưu giữ làm của riêng trong blog của mình. Những bài post đó thật hay, có nhiều bài thật giàu ý nghĩa nhưng cái cảm giác vay mượn làm tôi thấy thật sự áy náy với cái blog tội nghiệp của mình. Còn nhớ cái thời Yahoo360, tôi đã viết thật nhiều bài cảm nhận cho những ca khúc mà tôi đã nghe. Nhớ lắm cái cảm xúc mãnh liệt của tuổi trẻ khi bắt gặp những giai điệu khi sôi nổi lúc nhẹ nhàng, những tổ hợp âm thanh ấy cứ âm thầm thẩm thấu vào lòng để rồi tôi phải bật dậy ngay trong đêm đen để viết ra cho bằng hết tất cả những cảm-xúc-không-thể-không-diễn-tả-thành-lời ấy trước khi nó kịp tan biến trước những áp lực, lo toan vô hình của cuộc sống khi những tia nắng gọi bình minh của ngày hôm sau vừa ló dạng.

Kể ra cũng hơn một chục năm rồi, nhưng cái cách tôi nghe nhạc so với ngày xưa vẫn không thay đổi. Đêm về, trong không gian tối đen và mượt như nhung ấy tôi lại thấy rõ con người và cảm xúc của mình hơn đến nỗi nhiều khi tôi cảm giác mình có thể chạm vào nó, nó hữu hình và rất thật. Và khi ấy những giai điệu dễ dàng luồn lách vào sâu tận ngõ ngách tâm hồn tôi hơn. Đóng và khoá trái cửa phòng, cúp điện, play và cho playback một bài và chỉ duy nhất 1 bài, sau đó nằm duỗi thẳng toàn thân trên giường. Nhắm mắt lại, nghe, và cảm nhận. Đêm qua, tôi lại làm điều này với: While Your Lips Are Still Red của NightWish.

Khi nghe bài này, một câu hỏi của Eminem trong ca khúc “Lose Yourself” cứ luẩn quẩn trong đầu tôi:

Look, if you had, one shot, or one opportunity
To seize everything you ever wanted. In one moment
Would you capture it, or just let it slip?

Nếu bạn chỉ có mội cơ hội, chỉ một cơ hội duy nhất để theo đuổi với hy vọng có được những thứ mà bạn muốn. Bạn sẽ nắm lấy cơ hội đó, hay để nó trôi qua? Tôi tin chắc 100% câu trả lời sẽ là “Có” bởi không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông. Những cơ hội cứ đến rồi lại đi, cũng vô tình như thời gian, chúng không bao giờ quay trở lại. Có thể sẽ có những người sẽ đến, đi ngang đời bạn, rồi đi mãi nếu bạn không biết nắm giữ.

Sweet little words made for silence not talk
Young heart for love not heartache
Dark hair for catching the wind
Not to veil the sight of a cold world

Trong tình yêu, lời nói đôi khi không phải là tất cả bởi có những điều vi diệu mà lời nói dù tinh tế đến mấy cũng đành bất lực trong việc diễn tả. Và đó là khi mà trái tim lên tiếng.

Có những tình yêu đến thật nhẹ nhàng và đầy tình cờ. Tình yêu ấy tinh khiết như những giọt sương mai, không vướng chút bụi trần của những toan tính và vụ lợi. Tại nơi ấy, hai tâm hồn đồng điệu cảm nhận được những giai điệu nồng ấm từ trong sâu thẳm trái tim nhau. Lai có những tình yêu lại đem đến nhiều uẩn khúc trong lòng bởi cả hai đều biết sẽ không có một tương lai trọn vẹn bên nhau. Họ dù thấy trước một tương lai xa cách, nhưng họ vẫn cứ yêu, vẫn cứ sống hết mình cho ngày hôm nay để tuổi trẻ mãi là một thời tuy nông nổi nhưng không có gì để nuối tiếc. Hãy cứ yêu thôi, cần gì là mãi mãi. Chỉ cần giờ này, phút này, giây này: Ta-Là-Của-Nhau-Một-Cách-Trọn-Vẹn.

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

Vậy thì hãy hôn nhau đi khi đôi môi hãy còn thắm đỏ. Hãy yêu đi khi bầu ngực trinh nguyên ấy đang căng tràn cảm xúc mãnh liệt của yêu đương. Hãy nắm chặt lấy tay nhau để cảm nhận được hơi ấm khi bàn tay ấy chưa chất chứa những cám dỗ, muộn phiền; để rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau khi hai bờ mi vẫn đang khép chặt mơ màng trong khúc hoan ca của mối tình bất diệt mặc cho tạo hoá xoay vần, mặc cho phong vân chuyển sắc, mặc cho tang hải thương điền, mặc cho ngày mai sẽ cuốn tình ta đi về đâu.

First day of love never comes back
A passionate hour’s never a wasted one
The violin, the poet’s hand
Every thawing heart plays your theme with care

Giờ đây khi bất chợt đưa tay lên mái tóc nhung huyền ngày nào, ta chợt nhận ra dấu tích rõ ràng của những hạt bụi thời gian. Tuổi xuân đã qua, tình yêu thuở ban đầu đã qua sẽ không bao giờ trở lại được cho dù ta có tìm mọi cách để níu giữ bởi chiếc đồng hồ thời gian vô tình ấy nào có chạy ngược bao giờ! Nhưng rồi khi ngồi lật giở từng trang kỉ niệm đầy sắc màu trong cuốn sổ kí ức thì anh ấy, cô ấy có thể nhớ về nó với một nụ cười đầy mãn nguyện bởi họ đã sống không hoài phí.

Có một tác giả đã nói “Nếu nói tuổi trẻ hồ đồ là sai thì nỗi cô đơn trong những năm dài đằng đẵng sau này là cái giá phải trả.”. Bạn có muốn sau này phải sống trong nỗi cô đơn để trả giá cho những tháng năm tuổi trẻ sống hoài, sống phí không? Vậy thì hãy:

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

—————————

Sweet little words made for silence not talk
Young heart for love not heartache
Dark hair for catching the wind
Not to veil the sight of a cold world
Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

First day of love never comes back
A passionate hour’s never a wasted one
The violin, the poet’s hand
Every thawing heart plays your theme with care
Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

Kiss while your lips are still red
While he’s still silent rest
While bosom is still untouched, unveiled
Hold another hand while the hand’s still without a tool
Drown into eyes while they’re still blind
Love while the night still hides the withering dawn

———–

Những lời ngọt ngào nhất thường được cảm nhận từ sự im lặng
Nơi trái tim non nớt cháy hết mình cho một tình yêu không muộn phiền
Mái tóc em nhung huyền tung bay đón gió
Vẫn không che đậy được một khung trời lạnh lẽo của thực tại
Vậy thì hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa

Tình yêu thuở ban đầu sẽ không bao giờ quay lại
Những giây phút đam mê sẽ chẳng bao giờ là phí hoài
Tiếng vĩ cầm như đan vào bàn tay tài hoa của một nhà thơ
Trái tim như tan chảy quyện vào những giai điệu ấm nồng
Vậy thì hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa

Hãy hôn đi khi môi em còn thắm đỏ
Khi gã trai ấy vẫn còn đang say giấc
Khi bầu ngực em vẫn còn trinh nguyên
Hãy nắm lấy tay nhau khi đôi bàn tay còn chưa vướng bận
Rồi chìm sâu trong đáy mắt nhau, khi đôi bờ mi vẫn còn đang khép chặt
Hãy yêu đi khi đêm đen còn giấu được ánh bình minh tàn úa


(© VNese lyrics by me)

1 Comment

T.T.Kh, thi sĩ bí ẩn bậc nhất thi đàn Việt Nam

Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Tigôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.


Bí mật tiểu sử T.T.KH, tác giả của “Hai Sắc Hoa Tigôn” và Các Bài Thơ Khác

Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Tigôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.

Sau đó không lâu, toà soạn gặp được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ Hai Sắc Hoa Tigôn, dưới ký tên T.T.Kh.. Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kia. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Câu chuyện “Hoa Tigôn” đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới giàn hoa Tigôn. Rồi chàng ra đi, nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải tỏa niềm tâm sự.

Trong “Hai Sắc Hoa Tigôn” tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, tòa soạn “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh.. Đó là các bài Bài Thơ Thứ Nhất, Bài Thơ Đan Áo (riêng đăng ở Phụ Nữ Thời Đàm) và Bài Thơ Cuối Cùng.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh. nữa và không hiểu tại sao bài “Hai Sắc Hoa TiGôn” lại xuất hiện trước “Bài Thơ Thứ Nhất.”

Từ lúc T.T. Kh. góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người ta đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T.Kh.. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thị Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà Nội. Có kẻ cho cô là người yêu của thi sĩ Thanh Tâm, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hóa hay thi vị hóa một mối tình tưởng tượng. Rồi ký giả Thanh Châu, các thi sĩ Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng.

Về hoa Tigôn (Antigone in French): loại hoa dây leo, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh. Hoa Tigôn rất đẹp, có hai loại: loại cho ra hoa mầu trắng và loại cho ra hoa mầu đỏ hay hồng tươi, có thể mọc ở toàn cõi VN. Lá Tigôn mầu xanh, hình tim như lá trầu nhưng nhỏ cỡ 3 ngón tay. Hoa Tigôn nhỏ bằng đầu chiếc đũa ăn cơm, mọc thành chùm. Hoa Tigôn có 5 cánh hình trái tim, hai cánh nhỏ ở trong và 3 cánh lớn hơn chụm vào nhau bao ở ngoài. Khi gặp gió hay mưa hoa rụng từ cuống hoa, rơi xuống đất nhưng vẫn còn nguyên cả bông hoa chứ cánh hoa không tách rời ra tơi tả như T.T.Kh. mô tả trong thơ của bà. Ở miền Nam Việt Nam gọi là hoa nho vì lá giống lá nho. Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua những sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ……..

Như đã thấy “Bài Thơ Cuối Cùng” xuất hiện vào giữa năm 1938, trong đó T.T.Kh. giận trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báo làm lộ chuyện thầm kín cho khắp người đời thóc mách xem thì không còn thấy xuất hiện bài thơ nào khác của nàng nữa.

Mãi tới 2 năm sau, vào giữa 1940, mới thấy xuất hiện bài thơ gửi T.T.Kh. với bút hiệu Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình, 1917-194, có lẽ là ông ở xa vừa mới về. Ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh., gọi nàng bằng tên “Khánh” và nhắc tên nầy tổng cộng 4 lần. Bài thơ nầy là để trả lời cho 4 bài thơ của nàng, nhưng với giọng điệu cay đắng, mỉa mai!

Ngoài ra Thâm Tâm còn 2 bài thơ khác viết cho T.T.Kh. như sau: Màu Máu Tigôn, Dang Dở

Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho T.T.Kh. xuất hiện trong năm 1940. Bài thơ “Dang Dở” trên đã chấm dứt mối tình bí mật đó. Nhưng…

Sau đó, người ta lại được biết chút ít về T.T.Kh. qua bài thơ “Dòng Dư Lệ” của Nguyễn Bính. Lúc bấy giờ ai chẳng nghĩ T.T.Kh. chính là người tình vườn Thanh của Nguyễn Bính. Nhưng đó chỉ là sự ngộ nhận của một kẻ si thơ T.T.Kh. mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Bính lúc còn trẻ có máu “giang hồ”, vào Nam ra Bắc mấy lần. Một lần dong ruổi, gặp đêm mưa lớn, ông ghé vào trọ tại một nhà ở vùng Thanh Hóa, được người lão bộc tiếp đãi. Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ ngồi quay tơ – mà ông gọi là “Người Vườn Thanh” – đã khiến ông run động, thao thức bâng quơ; nhưng nghĩ mình còn nặng kiếp phong trần nên chưa dám tính đến chuyện tình duyên.

Rồi mấy năm sau, ông lại có dịp qua vùng Thanh Hóa, bèn tìm đến chốn cũ, thì được người lão bộc năm xưa kể cho nghe “một thiên hận tình.” Thời gian lại qua đi, ông gần như đã quên câu chuyện đó, thì đọc được những bài thơ của T.T.Kh. xuất hiện trên báo. Ông thấy những bài thơ đó giống hệt thiên hận tình của “Người Vườn Thanh” năm nào, ông nghĩ rằng “Người Vườn Thanh” chính là T.T.Kh., và viết bài thơ “Dòng Dư Lệ” để tặng nàng.

Mặc dầu xôn xao bàn tán và tranh dành lấy mình và lấy thơ của mình, T.T.Kh. đã biến mất. Cho đến mùa xuân năm 1938 ngày 30 tháng 10 thì trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại xuất hiện T.T.Kh. với Bài Thơ Cuối Cùng. Đó là bốn bài thơ mà T.T.Kh. đã để lại trong lòng tất cả người yêu thơ của bà. Cho đến thập kỷ 80, vẫn có người noí rằng bà còn sống và đã gặp bà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một lời nói mà thôi.

Vậy T.T.Kh. nàng là ai??? Và vì ai mà làm thơ??? Cái nghi vấn đã kéo dài hơn 50 năm cho đến năm 1994. Bà Đ.T.L (tạm dấu tên) đã tiết lộ cái mà thiên hạ cho là “thiên cơ bất khả tiết lộ” cho nhà văn Thế Nhật, và đó cũng là cái chìa khóa để mở cái cửa nghi vấn cho làng văn học Việt Nam.

T.T.Kh là gì?
T chữ thứ nhất là TRẦN
T chữ thứ hai là THANH
Kh chữ thứ ba là KHÓC

KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đời. Tạo hóa trớ trêu khiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

THANH là Thanh Châu, là tác giả của truyện ngắn”Hoa Tigôn” đã nhắc ở trên. Ông hiện cư ngụ tại Hà Nội, là người đã tạo cho T.T.Kh. những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khóc thương. Người đã mang nặng chữ chung thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ T.T.Kh., với cái hồn của nàng suốt hơn 50 năm trời đăng đẵng. Một người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách trớ trêu của tạo hóa, nhưng lại mềm mại, đắng cay trong từng ngòi bút ông buông lời

TRẦN là Trần Thị Chung, (tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung) sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hóa, Hà Nộị sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ. Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho một luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo học tập). Hiện nay bà cùng các con sinh sống ở miền Nam nước Pháp trong một thị xã nhỏ và bà vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu khác khau như Vân Nương, Tơ Sương v.v…

Hai Sắc Hoa Ti Gôn
                             T.T.Kh

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít giây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm!
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẻo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.

Đan Áo Cho Chồng
                               T.T.Kh

“Chị ơi! Nếu chị đã yêu.
Đã từng lỡ hát ít nhiều đau thương,
Đã xa hẳn quãng đường hương,
Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,
Đáng thương những kẻ có chồng như em,
Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.

Như con chim hót trong lồng,
Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.
Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan…

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim nhốt trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao !

Ngoài trời mưa gió xôn xao,
Ai đem khóa chết chim vào lông nghiêm ?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời…

Lòng em khổ lắm chị ơi !
Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.
Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!”

Bài Thơ Thứ Nhất
                             T.T.Kh

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương…
Nhưng mà nghệ sĩ từ đâu lại,
Êm ái trao tôi một vết thương.
Tai ác ngờ đâu gió lạ qua,
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn Người đi bến cát xa
Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác,
– Gió hỡi! làm sao lạnh rất nhiều ?
Từ đấy không mong, không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,
Người ấy ghi lòng :”vẫn nhớ em !”
Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt lòng dư lệ
Rỏ xuống thành thi khóc chút duyên ?
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ…
Thì ai trông ngóng, chả nên chờ !
Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa :
– “Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ !”
Tôi run sợ viết; lặng im nghe
Tiếng lá thu khô siết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến.
– Song đời nào dám găp ai về!
Tuy thế, tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi
Biết đâụ..tôi : một tâm hồn héo,
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!

Bài Thơ Cuối Cùng
                               T.T.Kh

Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ, một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em dã câm lời, có nói đâu !

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh “ty-gôn” ấy,
Mà viết tình em, được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ “đan áo” của chồng em.
Bài thơ “đan áo” nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy, biết không ?
….Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương : điệu cuối cùng !

Từ đây, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơị..
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời !

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôị..chết
Đêm hỡi ! làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh ? anh của em !

Tôi biết làm sao được hỡi trời ?
Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi !
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt…
Sợ quá đi, anh…”có một người” !…

Sưu tầm: Nguyễn Bửu Em

Leave a comment

[10.03.2014]

Mùa Đông Hàn Quốc (Took at Kookmin Univ.'s Concert Hall)

Thu qua, Đông đến nhẹ nhàng

Cho người lữ khách mơ màng chút Duyên ….

©

Leave a comment

Hãy cảm ơn Mẹ không chỉ trong ngày 8/3 ….

Áo dài tặng cô ngày 8-3 từ dãi dầu của mẹ

Ngày nhỏ, cứ gần đến ngày 8-3, tôi lại nhắc mẹ nhớ mua quà tặng cô giáo. Sợ tôi mắc cỡ với bạn bè vì không có quà tặng cô, mẹ gom góp tiền từ những ngày lam lũ trên ruộng đồng để mua một bộ áo dài.

Mẹ tôi vốn là người thành phố, từ khi có chồng, cuộc đời mẹ gắn với một làng quê heo hút. Rồi các con ra đời, mẹ càng thêm quê mùa vì suốt ngày lam lũ trên đồng ruộng tất bật chăm lo cho gia đình.

Nhà nghèo nhưng mẹ luôn dành phần tốt nhất cho các con, chưa một lần mẹ dám mặc áo mới. Những chiếc áo cũ của mẹ ngày càng sạm màu hơn sau những buổi trưa hè dãi dầu trên đồng ruộng. Mẹ hay dặn: “Ráng có cái chữ để sau này không cực khổ như mẹ nghe con!”.

Trong ký ức của tôi, những dịp 8-3 mẹ vẫn vào bếp tự tay nấu ăn cho gia đình, vẫn giặt từng chiếc áo, cái khăn cho chúng con… Có lẽ mẹ chưa từng có ngày 8-3 cho riêng mình.

Ngày tôi bước vào giảng đường đại học, cuộc sống xa hoa nơi thành phố làm tôi nhớ mẹ nhiều hơn. Ngày 8-3 không có mẹ bên cạnh, tôi mới hiểu ra rằng mình đã bỏ lỡ 18 lần quên chăm sóc, yêu thương mẹ trong ngày đặc biệt ấy. Mẹ ơi, đến khi hiểu ra điều này thì con lại rời xa mẹ 4 năm để thực hiện ước mơ.

Nhưng mẹ ơi, con tin chắc rằng 8-3 năm nay mẹ sẽ có vô vàn niềm vui khi con đã trưởng thành và hiểu được tất cả nỗi nhọc nhằn oằn nặng trên vai mẹ suốt 22 năm qua. Con sẽ dành tặng những cánh hồng đỏ thắm cho người phụ nữ con yêu nhất trong cuộc đời. Con sẽ may cho mẹ chiếc áo mới mà cả cuộc đời mẹ chưa bao giờ dám mặc.

Con cũng sẽ dành tặng mẹ tấm thiệp tự tay con làm với tất cả tình yêu thương. Tấm thiệp ấy sẽ có những lời từ trái tim con:

 “Cảm ơn mẹ đã sinh con ra trong cuộc đời. Cảm ơn mẹ đã cho con được khôn lớn nên người. Cảm ơn mẹ đã yêu ba, yêu chúng con suốt cả cuộc đời. Cảm ơn mẹ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân cho gia đình bé nhỏ của chúng ta. Cảm ơn mẹ vì luôn cho đi mà không cần nhận lại. Xin lỗi mẹ vì những lúc con quá vô tâm để mẹ phải buồn. Xin lỗi mẹ vì những khi con làm mẹ khóc. Mẹ ơi, con yêu mẹ nhiều lắm, yêu chiếc áo bạc màu, sờn vai vì một đời mẹ đã mặc!”.

(Hoàng Trân)

Leave a comment

[07.03.2014]

Thu tàn,

Chiếc lá vàng lặng lẽ theo gió bay đi.

Mặt hồ dậy sóng ….

©

Leave a comment

Đáo Bỉ Ngạn


Người khách cuối ngày vẫn chưa chịu về dù ông đã từ chối cuộc viếng thăm bằng im lặng. Hắn tới “xin ý kiến anh” nhưng thật ra để thăm dò ông còn bao lâu mới chết. Mặt hắn phủ đầy bóng mây buồn bã nhưng không che giấu được tia nắng nhảy nhót trong đáy mắt khi sắp được thay ông làm giám đốc.

– Mẹ thằng Nhất!

Ông gọi vợ bằng cái giọng của đứa trẻ gọi mẹ khiến hắn phải ngừng lải nhải đứng dậy:

– Em về! Gắng anh nhé!

Lượng khách đến thăm ông giảm dần theo thời gian. Ban đầu đông như hội. Sau lác đác. Có người ông tiếp bằng nụ cười héo hắt. Có người ông nhắm mắt lại. Ông nói ít, hầu như chỉ trả lời có – không. Cái nhìn trống rỗng. Bước chân ai ra cửa cũng nhẹ nhõm vì không phải mình sắp chết. Ngay cả bà vợ tận tụy của ông giờ cũng đã quen với chuyện ông sắp ra đi, và những đứa con đến thăm đã hồn nhiên nói cười như thể việc ấy chẳng can dự gì đến cuộc sống chúng nó.

Khi mở mắt ra, ông bực mình thấy một vị khách ngồi trên chiếc ghế bên giường. Lão ta trông lạ hoắc, vào khi nào không hay.

– Mẹ thằng Nhất!
– Gì thế mình?
– Mời khách ra!
– Có ai đâu? – Bà ngạc nhiên.
– Đui à?
– Có ai đâu? – Bà lặp lại.

Lão ta vẫn ngồi trên ghế, giương mắt nhìn ông. Một gương mặt lạ lẫm, không gian hoạt, đớn hèn khúm núm hay vênh vang tự đắc như những khuôn mặt ông thường gặp mà bình lặng đến phẳng lì.

– Ông là ai?

Im lặng.
Kẻ im lặng là kẻ yếu hoặc mạnh.
Vợ ông hoảng hốt khi thấy ông không bình thường.

– Mình nói với ai thế?
– Không có ai trong phòng thật sao?
– Thật.

Ông quay mặt vào tường. Một luồng khí lạnh phả ra làm lưng ông lạnh buốt. Ông quay ra. Lão vẫn ngồi đó .

– Ông là ai? – Ông hoảng hốt.
– Bạn.
– Tôi không biết ông.

– Ta đồng hành với ngươi từ khi sinh ra. Có khi gần đến nỗi giơ tay là chạm…
– Ông là…?

– Không dám gọi tên ta ư? Có khởi đầu là có kết thúc. Không kết thúc mới là bi kịch. Mọi người sinh ra để biết nỗi kinh hoàng khốc liệt này – ai cũng phải chết. Chịu khó thôi!

Lão quét cái nhìn lạnh như nước đá lên người ông khiến ông đông cứng trong sợ hãi. Vẫn biết cái chết sẽ ập đến với mọi cuộc đời nhưng khi người khác chết, điều ấy ở ngoài ông, mơ hồ xa xôi. Giờ đến lượt ta – ông nhắm mắt lại.

Khi mở mắt, ông vẫn còn sống mà lão đã đi. Ghế trống trơn. Ông không nhìn thấy gương mặt trơ lì cảm xúc của lão nữa. Nhưng thấy nó – cơn đau lì lợm, dai dẳng, quen thuộc. Nó đang thong thả dạo bước trong xương thịt ông. Giữa nó và lão, ai dễ chịu hơn?

– Đêm bà có nghe thấy gì không?
– Thỉnh thoảng ông rên.
– Tôi mơ chuột gặm ngón chân mình và giọng ai đó hát đều đều bên tai.
– Hát gì?
– Một bài vè tôi nghe ở Đồng Tháp mấy mươi năm trước: “Cái đồ gặm nhấm. Cắn hủy cắn hoài. Mặt dạn mày dày. Cắn hoài cắn hủy…”.
– Tại tâm ông bất an đó thôi!

Giấc ngủ ông giờ cũng bệnh, đầy ác mộng. Chân dài thơm phức, ngực vun như núi hễ kéo vào lòng là da thịt nõn nường mọc lông mọc lá. Sơn hào hải vị hễ bỏ vào mồm biến thành đất cát. Những tòa nhà lẩy bẩy như âm binh không đủ ngày tháng đổ ập xuống người ông… Không ngủ, càng khổ. Tiếng chuông gọi hồn của lão cứ rõ mồn một dọc hành lang bệnh viện. Gọi ai hôm nay. Gọi ai ngày mai?

Giờ thì ông đã nhận ra lão qua những hồi chuông báo tử vọng từ xa thẳm. Có lúc chuông rung khi tiếng cười chưa dứt, cái chết xé gió mang hình nụ cười, không kịp đớn đau, kinh ngạc. Có khi cái chết đến từ mọi phía, dữ dằn gớm ghiếc, chuông gióng giả từng tràng át cả tiếng con chim sắt xé nát bầu trời, tiếng bom nổ, cây đổ, đất đá rào rào… Diện mạo cái chết khác nhau nhưng chuông gọi hồn bao giờ cũng thế. Mồn một và đĩnh đạc. Suốt ngày ông nghe văng vẳng tiếng chuông. Từ quá khứ vọng về. Hiện tại vọng đến. Nhét bông vào tai vẫn nghe.

– Tôi muốn về nhà – ông thều thào.

Vợ ông chưng hửng. Rồi chiều. Vả lại, bệnh viện ung bướu trong nước và cả bệnh viện Thái Lan đều đã lắc đầu trước lá gan mục nát. Từ khi thấy lão, ông biết cuộc chiến đấu với thần chết đã vô vọng. Tiền và sự tiến bộ của khoa học vẫn không cản được bước chân lạnh lùng của lão. Về thôi!

Kẻ đón ông cuồng nhiệt đến ứa nước mắt ngay từ ngõ là con Vàng. Nó rên ư ử như giận dỗi vì sao ông đi lâu thế, rối rít chạy theo cáng, chui tọt xuống giường, đánh đuổi cũng không chịu ra.
Lão cũng có mặt. Áo choàng đen tối hơn huyệt mộ. Cái bị bắt hồn phồng to.

– “Người này thế mà đi trước ngươi!”. Lão ngó người em họ hồng hào khỏe mạnh mới trên bốn mươi.
– “Còn gã này cũng theo ngươi – vì nhậu!”- lão chỉ tay trưởng phòng kế hoạch vừa ló mặt.

Lão vuốt con Vàng bằng bàn tay xương xẩu khiến hắn như bị điện giật sủa ổng lên: “Không thể sống thiếu chủ!”.

Căn phòng lạnh và tối hẳn khi có lão. Nắng vàng vọt. Gió lẩy bẩy. Nỗi sợ hãi làm tóc tai ông dựng đứng. Không, ông không muốn chết. Ông có trong tay mọi thứ – quyền lực, tiền bạc, những mảnh đất đẹp như mơ “ăn” từ các dự án, những em chân dài xinh như mộng…

Đúng là lão đã đi. Ông cảm thấy đỡ buốt giá. Nghe tiếng thở của con chó dưới gầm giường. Tiếng lá rơi ngoài cửa sổ. Có nhẹ nhàng không nhỉ lá ơi!
Xôn xao một đỗi rồi lặng im. Vợ ông đút cho ông vài muỗng sữa Ensure nhưng ông đẩy ra.

– Tôi muốn ăn bánh nậm bà làm!

Người vợ ngẩn người vì kinh ngạc. Ở bệnh viện về mấy hôm nay ông không ăn được, chỉ uống sữa hoặc truyền dịch, làm sao ăn được bánh nậm? Cũng dễ đã trên hai mươi năm, ông không ăn món ruột của bà. Các món bánh lá, bánh canh ấy đã nuôi sống gia đình những năm khó khăn nhất rồi bị lãng quên không thương tiếc khi cuộc sống thay đổi. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Cứ cho ổng ăn, ông ngửi những gì ổng thích còn hơn sau này cúng ruồi.

Bà tất tả đi chợ mua lá, bột gạo, tôm tươi, chuẩn bị tỉ mỉ từng chút như để tặng ông món quà cuối cùng. Đích thân bà chấy tôm, làm chả, dáo bột, gói bánh, sống lại một quãng đời cũ, vừa làm vừa chặm nước mắt. Bà biết ông sắp ra đi. Những kẻ sắp chết thường rất lạ lùng.

Mùi bánh lá hấp chín nhẹ nhàng đưa vào tận phòng người bệnh khiến ông ứa nước bọt. Đã lâu lắm rồi mới ngửi lại mùi hương thanh đạm rưng rưng của quá khứ. Xa xăm như từ kiếp trước, tiếng rao lanh lảnh của bà dội vào tim ông: “Bánh canh, bánh lọc, bánh nậm nóng hổi đây…!”.

Lúc ấy lão đến.

Lão tò mò nhìn chiếc mẹt tre mới toanh còn thơm mùi đồng nội. Trên mẹt để đĩa bánh lá sắp theo hình rẽ quạt, châu đầu vào quả ớt đỏ tỉa hoa. Đầu mỗi chiếc bánh đội một miếng chả tôm hồng nhạt cắt theo hình trăng khuyết trông như chiếc vương miện. Chén nước mắm vàng nhạt trong vắt điểm mấy lát ớt đỏ thắm. Đúng kiểu quà Huế, thanh đạm mà tinh tế. Bà đỡ ông ngồi tựa vào gối, mở lòng lá bánh nóng hôi hổi, xắn đút cho ông từng mẩu nhỏ như đút cho em bé.

– Ăn cái cho biết! Không ai qua mặt bà ấy về món này – Ông buột miệng mời.
– Mình nói với ai thế?
– Với tôi.

Lão nhón một miếng chả tôm hình trăng khuyết bỏ vào cái mồm tối thui không răng, say mê nhóp nhép.

Thấy lão ăn ngon lành, ông thều thào:

– Chả…

Kệ, thích cứ chiều. Bác sĩ bảo không còn hy vọng nữa. Bà tự nhủ rồi xắn đút cho ông mẩu chả tôm nhỏ. Ông ngậm trong miệng nhưng mùi cuộc sống vẫn không đánh dạt vị ốm đau nhàn nhạt. Đắng nghét.

Lão vừa đi. Ông nôn thốc nôn tháo.

Ông đối mặt với cái chết đang nhích lại gần với vẻ tò mò. Ông từng chứng kiến nhiều cái chết – nóng hổi, tươi rói, dịu dàng, bạo liệt… Với ông, lão sẽ múa lưỡi hái như thế nào?

Một người bạn năm xưa tới thăm, khuyên ông tập thở bụng. Phình bụng hít vô. Thóp bụng thở ra. Gác mọi phiền não, chỉ kiểm soát hơi thở vào ra để biết mình đang sống. Khi cơn đau quen thuộc bên sườn trỗi dậy, lì lợm, bướng bỉnh, ông làm theo bạn, chuyên chú vào nhịp thở. Hớp một ngụm không khí, đẩy vào tận ngóc ngách, đối đầu với cái đau và có khi đánh dạt được cả nó. Đúng là gần chết mới biết thở. Gần chết mới nhận ra cái đẹp lạ lùng của trần gian mà mình sắp xa lìa. Cây bàng bên bờ tường đối diện cửa sổ phòng ông ở đấy từ lâu mà tâm hồn hoang mạc của ông có bao giờ nhìn thấy? Giờ nằm đợi chết mới có dịp ngắm. Sắc vàng nâu trầm tĩnh chuyển qua đỏ lộng lẫy như trút hết sinh lực đẹp lần cuối rồi nhẹ nhàng lìa cành để nhường cho chồi biếc, mầm non. Kết thúc cái này là để bắt đầu cái khác… Không kết thúc mới là bi kịch. Lão đã bảo thế.

Cái chết xâm chiếm ông từng ngày, nhưng cũng theo từng ngày, một mầm sống khác lại quẫy cựa, trồi lên. Dường như có một thằng bé chui ra từ hình hài mục ruỗng của ông, đái lên trái tim khô của ông làm nó ướt đẫm. Hắn dẫm lên tâm hồn băng giá của ông khiến băng tan chảy thành buồn thương, xấu hổ. Hắn nhìn mọi thứ bằng cặp mắt ngạc nhiên và lạ lẫm. Hắn nhảy nhót và hát: “Ta bị nhốt quá lâu. Trong tấm thân máu lộn mỡ. Trong cái đầu ma quái. Đầy mưu ma chước quỷ. Trời xanh trong thế này ư? Hoa đẹp thế này ư?…”.

Ông khước từ mọi thăm viếng, quà cáp. Chiến đấu với đớn đau bằng sự dũng cảm và trầm tĩnh. Trên gương mặt in dấu thần chết, đôi mắt lại sống, da diết thiết tha. Sự bình thản của ông làm bầu không khí nặng nề của ốm đau chết chóc vơi nhẹ. Ngôi biệt thự mang dáng dấp một mái nhà bình yên. Không tiếng đóng sập cửa xe, tiếng giày nện quyền uy, tiếng quát tháo, tiếng thì thầm xin xỏ, biếu xén. Cổng đóng. Chuông điện tắt. Cây cỏ im lặng xanh. Con Vàng gần như túc trực trong phòng. Hơi thở của nó hòa với hơi thở người bệnh, và ông lắng nghe với sự thương cảm.

Gần chết ông mới hiểu tấm lòng của một con chó. Hắt hủi, quát tháo mà vẫn lăn xả vào thương. Gần chết mới biết dịu dàng với người vợ hiền tận tụy. Dịu dàng đến nỗi bà khóc một cách âm thầm. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Bà không còn nhận ra ông trong những ngày này. Ai đó đã nhập vào người chồng độc đoán của bà, người mà mỗi cái liếc mắt, quát tháo, ra lệnh đều thể hiện quyền lực tối thượng của một chủ nhân ông. Người đã chê bà già rồi, không xứng đầu ấp tay gối, không xứng cùng đi, không cùng chia sẻ… Người ấy hôm nay lại cầm tay bà, dịu dàng săm soi bàn tay đầy vết chai sần, lổm ngổm gân xanh. Cái nhìn day dứt, ấm áp…

– Sao bà không sai bọn nó, tự làm chi cho khổ?
– Người khác làm sao tôi yên tâm. Chỉ tôi mới thành thuộc những gì ông thích.
– Bà có oán tôi không?
– Tôi chỉ ước mình đau thay ông. Đàn bà chịu đựng giỏi hơn đàn ông.
– Người ta chỉ được sống một lần, sai không làm lại được.
– Cũng có thể chết và sống lại trong từng khoảnh khắc, ông à! Lúc này ông cũng đang sống lại đó thôi. Ông như ông ngày xưa, của tôi…

Người đàn ông mạnh mẽ, quyền uy giờ bất lực, yếu ớt như một đứa trẻ và hoàn toàn của bà. Bà bón cho ông từng giọt sống, vỗ về ông khi đau, lau mình mẩy ông nhẹ nhàng như lau em bé – tẩn mẩn từng vết sẹo, từng nốt ruồi, nốt ghẻ thân thuộc.

– Có bà bên tôi, cái chết bớt đáng sợ hơn. Da tôi vàng thêm nhưng hồn tôi thì xanh lại, phải không? – Có. Xanh ngắt – Bà nhìn sắc da vàng nghệ, ứa nước mắt.
– Bà lại khóc! Đừng khóc! Những phút quý giá này đừng dành cho nước mắt… Này, bà mua cho tôi một con chó cái…
– Làm gì?
– Để con Vàng có bạn, khuây khỏa. Có những con chó chủ chết nó nhịn ăn chết theo bà à! Nó thương tôi lắm đó!

Nghe nhắc tên, con Vàng đang nằm dưới chân đứng dậy vẫy đuôi kêu ư ử…

Lão tạt qua, ngạc nhiên thấy ông có vẻ nhẹ nhõm, bình tĩnh. Lão bảo: “Tốt. Chết cũng phải học. Quẳng hết. Về tay trắng. Giờ ngươi như đứa trẻ tập đi, phải tự bước, không ai bước thay. Đừng sợ ngã. Không ngã nữa. Chỉ bay, nếu nhẹ như hạt bụi”.

Và ông đã bay trong những cơn mê. Tấm thân nặng nề khi quẳng hết hỉ nộ ái ố, thoát khỏi những trò chơi khốc liệt của cuộc đời, nhẹ như phù vân. Ông bay vào những đám mây xốp màu sáng bạc, màu của hư vô bát ngát. Tắm gội linh hồn thanh sạch bằng tiếng ngân dài bay bổng của sơn ca, giọng rừng nguyên thủy mang theo tiếng suối reo, thác đổ của chích chòe lửa. Bay qua tán rừng xanh lục, nơi ông gửi lại một chặng đời trong trẻo tươi xanh khi lòng còn tinh khôi chưa lốm đốm u sần của tham vọng gian dối. Tuổi trẻ ông nhìn ông xa lạ còn đồng đội không nhận ra ông. Họ nằm lại giữa màu xanh và tiếng chim, linh hồn nhẹ như mây, làm sao nhận ra cái lão bụng phệ ăn đất và sắt thép này là anh chàng thủ kho xanh rớt ngày nào sẵn sàng ăn sắn nhường cơm cho đồng đội?

Ông bay qua nơi mình tạo ra dâu bể – khách sạn, nhà hàng, quán nhậu mọc như nấm sau mưa trên dải đất trước kia là thôn xóm, ruộng vườn yên ả. Những ngọn lúa, ngọn rau bị vùi dưới lớp xi măng cốt thép ngóc dậy nhìn theo. Bay qua hội chợ phù hoa – phòng VIP, rượu ngoại, cờ bạc, chân dài như ngọn lửa dịu êm thiêu đốt nhân cách và làm mục nát lá gan mình.

Ông đảo lại lần cuối trên tòa nhà ba tầng, công ty xây dựng và phát triển nhà ở. Phòng giám đốc, hắn ta đang ngồi. Hắn có ngồi tù thay ông, kẻ hạ cánh an toàn xuống cái chết? Ông cố tìm trong lô xô, bé tẹo dưới kia những mảnh đất mình “ăn” qua các dự án nhưng tất cả như những mảnh ghép hình trong thành phố đồ chơi. Người ông chợt sà xuống như diều đứt dây và ông nghe lão quát: “Về thôi!”.

Ông rơi vùn vụt xuống hố thẳm không đáy, muốn mở miệng kêu mà không kêu được. Thân xác này không còn của ông nữa. Nó đã bị cái chết xâm chiếm. Ông nghe vẳng vẳng tiếng khóc gào, tiếng tụng niệm. Thấy mình bị nhấc bổng lên và tiếng lão dõng dạc hô to: “Đáo bỉ ngạn !”(*)

Theo ước nguyện sau cùng của người đã khuất, di chúc mở ra có sự chứng kiến của gia đình và đại diện chính quyền. Trong đó có đoạn:

“Đến cuối đời tôi mới nhận ra lương tâm là quyền lực lớn nhất. Dưới quyền lực ấy, tôi xin để lại cho vợ và hai con những gì do sức lực, trí tuệ mình làm ra trong mấy mươi năm gồm…

Xin trả lại những gì do mưu ma chước quỷ tôi chiếm đoạt được gồm…

Xin tha thứ cho tôi…”.

Vừa qua giỗ đầu, thằng Nhất bảo:
– Mẹ bán nhà chia cho tôi! Nhà này tôi cũng có phần.
– Bán rồi ở đâu?
– Ra nghĩa địa mà hỏi ổng. Trâu chết để da, người ta chết để của. Tự dưng đem khai ra rồi đem trả. Ngu! Cha mẹ ngu thì con khổ! Tui còn sống là còn oán ổng. Vì ổng mà con cái xuống đời! Người ta ăn đầy ra đó có ai tự nguyện trả đâu! Miếng đất ở ngã tư giờ phải mấy tỉ, nếu xây khách sạn ba sao tui đâu có thành thằng ma – cà – bông! Còn miếng ở khu trung tâm, xây nhà hàng cho con Thanh làm chủ, hắn đâu có đi làm cực khổ mà lương chỉ hơn triệu bạc. Cha mẹ ngu con mới khổ!… Ngu! Ngu! Đại ngu!

Cứ rượu vào là cậu quý tử đem chuyện ấy ra nhấm nháp, liên miên…
Bà nuốt nước mắt ngước nhìn trời. Bà tin đám mây trắng nhẹ thênh bay ngang qua nhà là ông. Hình hài tan rã, tham sân gửi lại, chỉ còn linh hồn lãng du theo mây trắng.
Từ khi ông mất, bà bỗng sinh chứng nhìn mây, nói với mây, khóc với mây. Chuyện con cái xâu xé nhau của cải. Chuyện chúng đã quen làm cậu ấm cô chiêu, tiêu xài như nước, gì cũng có người lo sẵn, giờ không tự đi được.

“Bay đi ông ơi! Đừng nhìn! Đừng nghe!”, nhưng giọt nước mắt vô hình vẫn nhỏ trúng tâm hồn bà. Bà thì thào: “Ông khóc đó ư?”.

Năm sau ngôi nhà vườn tuyệt đẹp biến thành quán Hương Huế chuyên bán bánh nậm, bánh lọc, bánh bèo, bánh canh. Khách ngồi dưới bóng cây râm mát, ăn những món dân dã nóng hổi, trình bày tinh tế đẹp mắt. Bánh nậm xếp theo hình quạt, mười cái một dĩa. Mở lòng mỏng mảnh, phơi dạ trắng ngần, điểm nhụy tôm hồng, chấm nước chấm ngọt thanh, ăn kèm chả tôm cắt hình thoi, xếp thành đóa hoa vàng, đưa đũa lên, cứ tần ngần vì quá đẹp. Dĩa bánh ướt nhụy tôm cũng mười cái, uốn cong thành mười cánh hoa. Bánh bèo chén để trên mẹt tre, rắc nhụy hồng, điểm tóp mỡ giòn, ăn bằng chèo tre vót mảnh… Bắt mắt nhất là tô bánh canh Nam Phổ. Tô nhỏ để vừa say, chưa ngán, hòa quyện tinh tế sắc màu và hương vị. Rẻ, ngon, đẹp mắt, lịch sự, khách vô ra quán nườm nượp, làm không kịp bán.

Cuối ngày, khi xong việc, bà lại thắp lên bàn thờ ông một cây nhang, thì thầm kể chuyện: “Hôm nay thằng Nhất có phụ tôi đôi chút ở quán! Nó hết đòi bán nhà rồi! Tôi đang tập cho nó đi. Khi nào nó bước đi vững vàng rồi, tôi sẽ về với ông, ông ơi…!”.
Tàn hương uốn cong như lời đáp. Đốm lửa như mắt người, lung linh đỏ, đỏ lung linh…

(*) Đáo bỉ ngạn: Tới bờ bên kia

(Quế Hương)

Leave a comment